Nhật ký Vũ Phong

Đối với người lính, được về thăm chiến trường cũ nơi mình đã từng sống và chiến đấu năm xưa, là một ước vọng. năm nay, chúng tôi được về quảng trị. hành trình thật dài, hơn 1400 cây số chỉ 2 ngày đêm. yêu cầu về thời gian rất chặt chẽ, nghiêm như quân lệnh mới đảm bảo được hành trình. đường đi dài như thế, thời gian quá ngắn như thế, mười mấy con người trên chiếc xe 15 chỗ như thế, biết bao sự cố có thể xẩy ra… đến 8 giờ tối chủ nhật, 21/12/2003 khi xe về đến cổng trường, tôi mới dám đứng trong xe công bố: chuyến đi đã thành công!


Chuẩn bị cho chuyến đi rất cập rập, nhưng được phân công tỷ mỷ, từ việc ăn, nghỉ, nước uống, thuốc men, quà tặng, đối ngoại đến hương, hoa, bật lửa, dao găm… mỗi người một việc, vẫn đậm chất lính. đoàn có hai nữ, hạnh và lê. hành trình đã vạch ra trước, thời gian thì đúng khớp, nhưng công việc thì vượt trội không ngờ. dự kiến ban đầu đến 6 địa điểm, chúng tôi đã đến được 12 nơi di tích, nghĩa trang. 
Điểm dừng đầu tiên là cầu hiền lương trên sông bến hải. bây giờ người ta đã xây bên cạnh một cây cầu khác rất lớn bằng bê tông thay thế. cầu hiền lương bắc năm 1952, giờ để lại làm di tích. bước chân lên cây cầu lịch sử, ai cũng thấy bâng khuâng. cây cầu này đây, chứng kiến 21 năm bắc nam chia cắt. hai mốt năm ấy, hàng bao nhiêu sư đoàn hành quân vào nam. đất nước hình chữ s, sông bến hải cắt ngang, cầu hiền lương bắc dọc, 21 năm dòng, hàng trăm vạn người vượt sông mà chưa một người lính nào đi qua mặt cầu này.
đến dốc miếu, chúng tôi rẽ sang phải 18 cây số là vào nghĩa trang liệt sỹ trường sơn. đứng một hàng ngang trước lư hương trong nhà tưởng niệm, một phút mặc niệm đã thấy lòng thổn thức. một số anh tranh thủ tìm người nhà. các chiến sỹ gái còn rất trẻ của binh đoàn trường sơn ân cần giúp đỡ chúng tôi. một cháu hỏi quê quán của liệt sỹ cần tìm, rồi lôi ra các cuốn sổ bìa cứng dầy cộp. cháu đưa một nén nhang bảo chúng tôi đốt lên rồi chắp tay khấn trước cuốn sổ ấy…nhìn gương mặt cháu sáng trong, tôi chợt hiểu điều linh thiêng mà những người đã mất trao gửi những khát vọng cuối cùng cho những người đang sống hôm nay. 
Chúng tôi ra khu nghĩa trang, một không gian hoành tráng với những tượng đài bằng đá nguyên khối đồ sộ. hầu hết các binh chủng đều có mặt, những gương mặt chiến binh với những nét khắc rành mạch, khuôn hình rắn rỏi, gân guốc làm chúng tôi thấy cứng rắn hơn khi bước lên những vạt đồi linh thiêng này. mọi người tản ra các khu mộ tìm đồng đội hoặc thân nhân. tôi giao hẹn, sau 20 phút tất cả tập trung đi tiếp. mỗi tỉnh một vạt đồi. anh ngọ và sắp tìm đến khu hải hưng, sâm và nhật sang khu đồi phú thọ, tần và khánh về khu thanh hoá, đức đi đâu chẳng rõ… tôi lên khu mộ của lính hà nội. một lá cờ đỏ sao vàng to rộng mấy chục mét vuông lượn mềm mại ôm cuốn lấy ngôi chùa một cột, tất cả dựng bằng bê tông, uy nghi nhưng ấm áp. cô hạnh đốt mấy bó hương, mỗi mộ một nén mà chẳng đủ chia, thôi đành vậy, các anh nằm lại tôi phải đi đây. đến giờ tập trung, vẫn thiếu anh sâm, lại lần mò đi đâu? chúng tôi gọi khản cổ, núi rừng tĩnh mịch ngân vọng, mãi sau anh ấy mới lọ mọ chui ra từ một khu mộ chìm trong lùm cây xanh. tôi hơi bực, nhưng khi lên xe tôi nhắc nhẹ: nếu như còn ở lính là tôi bắt anh đi chặt củi cả ngày đấy.
Xe rẽ vào huyện đội huyện triệu phong. các anh đón chúng tôi ân cần và thân thiện như những người lính cùng đơn vị. chúng tôi báo cáo hành trình đi và trao tặng phẩm cho các anh: một cuốn lịch sử trường đh xây dựng, thiếp chúc tết và cuốn lịch năm 2004. các anh cử một thiếu uý trẻ, dẫn đoàn đi tiếp hành trình. chúng tôi vào thành cổ quảng trị. 
một cây cầu uốn cong dẫn vào cổng thành xám mốc cổ kính. giờ đã sang canh ngọ, những người trông coi nhà bảo tàng đang ăn cơm. Chúng tôi tranh thủ vào khu di tích trước. khoảng đất giữa thành cổ, dựng một vọng đài cao 2 tầng. gắn bao quanh trụ đài ở tầng trên là 82 tấm đồng cỡ 30x30cm gò nổi thành 82 tờ lịch, từ ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng của cái mùa hè cháy bỏng, khốc liệt ấy. năm 1972… giờ đã 32 năm rồi. có mặt ở quảng trị năm ấy có sâm, nhật, ngọ. Còn trực tiếp đánh ở thành cổ này có 3 anh đức, tần và lộc. tôi bảo các anh: Ai vào đây ngày nào, đứng bên cạnh tấm lịch tôi sẽ chụp kỷ niệm cho. mọi người tần ngần lắc đầu, không ai nhớ được cả. khi ấy, nào có ai biết ngày và đêm, cái sống và cái chết cũng còn nhoè gianh giới nữa là thời gian. thôi thì ước lệ vậy. anh sâm chọn ngày sinh, mùng 5/9. đức chọn được ngày 28/9, ngày bị thương được đồng đội cáng ra ngoài. tần đứng cạnh tờ lịch đề ngày 26/8, cái ngày mà tần vào làng nham biền kề sát sông thạch hãn. và tại đây anh tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc thảm khốc của dân làng nhan biều sau trận bom mỹ. Nhật cũng chọn ngày mình bị thương: 12/9 - một mảnh bom phạt vào cổ và cánh tay anh, anh bò lết vào hầm chỉ huy sở của d1, e36 đến sáng hôm sau, đồng đội mới kéo anh ra tuyến ngoài. Ngọ lại bị thương đúng vào ngày 27/7, thuốc đạn mầu xanh lam đến nay vẫn găm đầy người anh. Còn lộc đắn đo mãi nhưng chẳng nhớ ngày nào hết, nhưng lại ra vẻ dứt khoát: lấy ngày quốc khánh 2/9!…Tôi quỳ thấp bấm máy, để hình các anh hắt lên nền trời quảng trị cao xanh. đã quá trưa, nên các bức ảnh các anh rất đẹp. Sau này, tần bảo tôi rửa thêm kiểu này cho anh nhiều tấm nữa để tặng bạn bè. 
Khi rời vọng đài, chúng tôi đến đài kỷ niệm sinh viên. trên bậc tam cấp, một bức bêtông cao 4m chạy dài tới 30m ốp đá hồng. Những bức phù điêu sinh động mô tả con đường từ hậu phương miền bắc vào đến nơi đây, chiến trường khốc liệt. Một hàng chữ nghiêm trang: đài chứng tích sinh viên-  chiến sỹ. Lính của các sư đoàn 308, 320, 325…Tham gia đánh thành cổ rất nhiều, nhưng vẫn phải lập riêng đài tưởng niệm cho sinh viên? trong cuộc chúng tôi đều hiểu, không ai nói với ai và lặng im thắp những nén nhang cầu nguyện. những năm ấy, sinh viên chúng tôi nhập ngũ rất nhiều, hàng vạn, không thống kê nổi. Vào đánh ở quảng trị và ngã xuống nơi đây cũng rất nhiều. Các trường đại học khác không rõ bao nhiêu, nhưng riêng sinh viên đại học xây dựng đánh ở quảng trị và mãi mãi nằm lại nơi đây, có đến hàng trăm, cũng không thống kê nổi đâu…
Chúng tôi lại băng ngang những thửa cỏ ướt đến khu hầm của thành cổ duy nhất còn sót lại. Nếu nhìn từ trên cao xuống sẽ hình dung ra các con đường bê tông ngoằn nghèo hiện nay chính là các con hào khi xưa, nhưng chỉ là mô phỏng thôi. Tôi lại hỏi các anh: nào mọi người hãy quan sát đi, những ai đánh ở khoảng nào thì chỉ ra xem? Cũng không ai nhớ nổi, vì khi ấy chỉ ngổn ngang gạch đất và lửa bom, cái sống và cái chết cũng chẳng còn nghĩ đến nữa là không gian. riêng đức thì nhớ mang máng đánh ở cổng phía tây. tôi kéo đức đến cái cổng thành hoen gỉ, cây dại mọc um tùm và bấm cho anh 2 kiểu ảnh.
Người thiếu uý trẻ dẫn đường nhắc chúng tôi vào nhà bảo tàng. giám đốc bảo tàng trần khánh khư ra hà nội chưa về. tối hôm kia, anh tần cùng một nhóm cựu chiến binh uống bia ở hồ tây với giám đốc khư và anh khư đã gọi điện về bảo tàng nhắc hôm nay có đoàn ccb của đh xây dựng vào, nhớ chuẩn bị đón tiếp…ban điều hành nhà bảo tàng quảng trị đều rất trẻ. Một cháu gái tên trang tiếp chúng tôi. thay mặt đoàn, tôi tặng lá cờ thêu dòng chữ hội ccb trường đại học xây dựng kính tặng cho nhà bảo tàng. tôi nhắc 3 anh lộc, đức, tần trực tiếp ghi sổ lưu niệm, còn tôi vào uống nước với cháu trang. tôi hỏi cháu ở vùng nào? Cháu người quảng trị, sinh năm 1973. Nghĩa là sinh sau chiến dịch quảng trị? vâng, năm 72 ác liệt quá, bố mẹ cháu sơ tán ra ngoài rồi sinh cháu ở đó. sao cháu vào làm ở đây? học xong đại học cháu muốn làm ở đây, vậy thôi và các chú ấy đồng ý… tôi chẳng thể hỏi gì thêm được nữa, chỉ thầm cảm ơn cháu. chẳng phải ý nghĩa to tát cháu là những người làm sống lại lịch sử hào hùng này đâu? tự thân sự kiện này đã hào hùng rồi mà nó sẽ sống mãi. Chỉ đơn giản một điều là dẫu có hào hùng thì đã là quá khứ rồi, các cháu là gạch nối giữa quá khứ với hiện tại mà thôi. Cảm ơn cháu nhiều trang ạ. 
Chúng tôi lên tầng 2. Mọi người chợt sững sờ, một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng khi nhìn thấy một nhóm tượng các chiến sỹ thành cổ. Nhóm tượng tỷ lệ 1/1 gồm sáu chiến sỹ với các tư thế rất sống động. người đang tỳ súng vào bờ tường lở loét làm nhiệm vụ cảnh giới. còn bên trong, một người ghếch quả đạn b40 vào đùi, đang chăm chú viết thư, người đang lau khẩu ckc, người đang đọc trang báo nát, người đang tự băng lại vết thương… gương mặt ai cũng trẻ măng, nâu xạm đất và lửa, đầy cương nghị nhưng lại rất thanh thản như nơi đây chưa hề có cái chết tôi tìm một góc gói trọn nhóm tượng trong khuôn hình, bấm máy. Máy hóc. Tôi loay hoay mãi không sửa được. Lạ thật, cái máy canon đã theo tôi bao năm tháng? chợt nhận ra điều gì đấy, tôi khẩn khoản: nào các anh, cho tôi chụp đi. Vẫn không được! Thôi đành vậy.Sang gian bên có tủ kính đặt bức thư của lê văn huỳnh, bức thư gửi cho tương lai, bức thư nổi tiếng gây xúc động cho hàng triệu người mà báo chí đã nhiều lần nói đến. Huỳnh là sinh viên năm thứ tư, khoá 13 cầu đường trường đh xây dựng. Tôi cũng không chụp lại được bức thư ấy. Máy vẫn hóc. biết vậy, cháu trang đưa cho tôi 6 trang photo bức thư của lê văn huỳnh. Hôm sau khi về trường đhxd, trong buổi kỷ niệm ngày 22/12 tôi đã đọc toàn bộ bức thư đó. Cả hội trường ai cũng muốn khóc, chính tôi cũng không ngăn nổi nước mắt…ra khỏi nhà bảo tàng, trong khoảng sân tràn ánh nắng, chiếc máy canon tự dưng khỏi hóc. và tôi ghi lại được giờ phút chia tay.
Bữa cơm trưa ở Quảng Trị tuy rất muộn, đói và mệt nhưng ai cũng phấn khởi vì từ sáng làm được rất nhiều việc. Quán cơm khiêm tốn nằm sát lề đường, nhưng tủ rượu thì có đủ loại. Bà chủ hàng cơm đôn hậu giới thiệu món ăn riêng có của quảng trị, một loại dưa góp và cà sống chấm với mắm ruốc rất ngon và lạ miệng. Cuộc sống thanh bình quá, 32 năm rồi các anh ơi. Chén rượu này chúng tôi chúc nhau, những người còn sống trong cuộc chiến, nhưng hơn nửa chén là dành cho các anh, của các anh.
...chúng tôi lại lên xe ra cảng cửa việt. Cửa việt bây giờ là cảng cá, một thương cảng. cảng vắng tanh, tràn gió và nắng. Biển xanh, sóng nhẹ và trời cũng xanh, có nhiều vồng mây trắng xa xa. đẹp và thanh bình. chúng tôi đứng hàng ngang trên cầu cảng, vui với biển trời chắc chẳng ai hoài niệm về quá khứ. Riêng đức có lẽ xúc động nhất vì chính ở gầm cầu cảng này anh đã cùng đồng đội phải nằm hàng giờ dưới làn pháo địch. cũng tại đây, một mảnh pháo đã chém ngang sườn cậu tuấn, nguyễn văn tuấn, khoá 15 cầu đường, người hà nội, phố thuốc bắc. Các anh đã phải chôn tạm đồng đội rồi tiếp tục trận đánh. khi trở ra quảng trị, chúng tôi vào nghĩa trang triệu long, rồi nghĩa trang triệu thành… ở đó, anh đức tìm mãi không thấy mộ của nguyễn hữu tuấn. Tuấn được chôn gần nghĩa trang này, có khắc lại tên kia mà ??? còn tôi tìm thấy mộ của chu ngọc tiến. Tiến ở 53 hàng đậu hà nội, sinh viên khoá 15 ngành cấp nước. chỉ là phần mộ thôi, còn di hài tiến đã được chuyển về nghĩa trang từ liêm hà nội hồi tháng 12 năm 2002 rồi. bà mẹ của tiến hôm ấy không khóc được nữa, chúng tôi dìu mẹ đi, chắc mẹ đã khóc hoài bao năm tháng. nhưng khi đưa được tiến về, chắc mẹ thoả lòng.
Cũng tại nghĩa trang triệu long, đức đánh rơi kỷ niệm chương quảng trị. Mọi người tản ra tìm hộ. Mãi sau lại chính đức tìm thấy tấm kỷ niệm chương nằm cạnh ngôi mộ 172, mộ vô danh. Chúng tôi bảo nhau, có khi đấy chính là lính của đhxd. mà cũng có khi đó chính là tuấn? đến nghĩa trang triệu thành, lại đến lượt tần đánh rơi kỷ niệm chương. Lần này rút kinh nghiệm, tôi giục tần đốt nhang vào khấn đi. Nén nhang nghi ngút. Khấn xong, tần cho tay vào túi rồi kêu lên: đây rồi…
vào đến nghĩa trang đường 9, trời đã tắt nắng. Cổng nghĩa trang đã khoá. Tôi trèo vào trong, tìm đến nhà ban quản lý. Người quản trang ở vạt đồi bên cạnh. Ông trạc tuổi 50, nói giọng nghệ. Ông mở khoá cổng cho ôtô vào mà chẳng hề phàn nàn câu gì. Nghĩa trang đường 9 là những khoảng đồi mênh mông, ít cây xanh. Đài tưởng niệm hùng vĩ lừng lững như nét khắc của núi lên khoảng trời u buồn. chúng tôi tìm thấy ngay ở hàng đầu là mộ của bùi ngọc dương, anh hùng của đường 9 khe sanh. Bùi ngọc dương người hà nội, phố ngô thì nhậm. Anh là sinh viên khoá 7 ngành cầu đường. Anh đã dẫn đơn vị của mình đánh thọc sâu mở đường trong chiến dịch đường 9 khe sanh. Mảnh bom phạt gần đứt cánh tay phải. Anh đã nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt hẳn cánh tay mình rồi tiếp tục chỉ huy trận đánh. Sử sách đã gọi bùi ngọc dương là la văn cầu của thời kỳ chống mỹ. Thi hài của anh đã đưa về khu mộ của dòng họ tại thôn giáp nhị, thịnh liệt, quận hbt hà nội. 
Cảng cửa việt
...Trời đã nhá nhem tối, gió lạnh nổi lên. Chúng tôi châm vội những bó nhang rồi chia nhau tản ra các khu đồi. tôi lên ngọn đồi của lính nghệ tĩnh. Những nấm mộ ở đây được xếp thành hình các cánh hoa, mỗi cánh 10 ngôi là một tiểu đội. tôi thầm nói với các anh: không đủ nhang đâu, mỗi tiểu đội tôi thắp 1 nén vậy. Thế mà vẫn thiếu. Nhiều quá, bạt ngàn thế này mà chúng tôi chỉ có 12 người. Tôi chắp tay khấn xin các anh thứ lỗi. 
Ở đây có 9830 người, còn 170 nữa là tròn 1 vạn…mà còn nhiều nhiều nữa chưa biết các anh nằm lại nơi đâu?  thầm nghĩ, để mà tự an ủi rằng xương thịt các anh đã hoà vào trong đất mẹ. Người quản lý nghĩa trang dẫn chúng tôi lên khoảng đất trống đỉnh đồi, nơi có 2 đống đất rất to, còn mới. mỗi nấm đất là một ngôi 40 người. 80 chiến sỹ vừa quy tập cách đây 1 tuần. Mỗi ngôi mộ có 40 người ???... khi sống, chiến đấu bên nhau, nắm cơm cũng chung, mẩu thuốc lá cũng chung, mọi người như nhau đồng cam cộng khổ. nay chết rồi, xương cốt cũng chung, nắm đất cũng chung. Nhiều gia đình khi tìm thấy mộ con mình, cũng không bốc mộ đưa hài cốt con về quê. Thể theo ý nguyện các anh, để các anh nằm lại cùng đồng đội. Sống bên nhau và chết cũng mãi mãi có nhau. 
So với nghĩa trang trường sơn, thì nghĩa trang đường 9 này cỏ mọc nhiều quá, nhang khói cũng lạnh lẽo hơn. Người quản lý nói với chúng tôi: nghĩa trang này xuống cấp lâu rồi, cũng đã đề nghị nhiều rồi nhưng trên chưa quyết. Các anh ở hà nội vào, tiện đây nói giúp chúng tôi, nói với trung ương, nói với đồng bào cả nước. 
trời tối nhanh quá, chúng tôi lên xe bàn nhau không ăn cơm chiều mà phóng nhanh ra quảng bình. mọi người im lặng, mệt một phần, nhưng câu nhắn gửi của người quản lý nghĩa trang đường 9 cứ day dứt theo chúng tôi suốt chặng đường gần 200 cây số.
Xe phóng vun vút trong đêm. Ánh đèn xe rạch một luồng sáng hướng về phía trước. các anh ở lại nhé, chúng tôi đi đây. Đất nước còn bộn bề, còn biết bao nhiêu điều phải làm. Một thế hệ đâu có làm xong? các anh đã làm, chúng tôi đang làm và các thế hệ sau, con cháu chúng ta nữa, vẫn sẽ làm...
Cuộc sống là như vậy...!