Hương Canh - Một thời để nhớ và K15 Thuỷ lợi Cảng ĐHXD

Mùa hè năm 1972 lớp 15T đi lao động, đi đo đạc (sản xuất thực) ở khu vực Đền Hùng Phú Thọ.
Lớp được chia làm nhiều nhóm do các thày trong bộ môn trực tiếp chỉ huy. Nhóm của tôi gồm: Trung (0912946753), Toàn (0963736689), Thắng (0913238267) và hai a nàng là Hà và Yến. Toàn là dân HN cả. Nhóm mình do hai thày: Đỗ Dũng và Thạch Dũng - đều học ở LX phụ trách. Hai thày này chỉ được cái đẹp giai còn đều lười vô tả, phụ trách chung là thày Phan Khang (TG sách Đo đạc đại cương). Công việc trong nhóm hoá ra tôi lại là khá nhất, thật vớ vẩn vì tôi chưa học lấy một buổi nào môn Đo đạc. Cần nói thêm là lúc vào thi môn Đo đạc, chính thày Phan Khang hỏi bài tôi, tôi thú thực là không biết tý gì và có câu nói có lẽ là nhiều người vẫn nhớ đại loại: môn Đo đạc là môn vô cùng vô tận nên em không biết, thày cười: vô cùng vô tận sao người ta lại có thể biết và lập ra ngành Đo đạc, thưa thày thiên tài là vô học vì chẳng có ai biết để dạy họ và họ biết được tất cả còn em thì không… Sau này xem SGK mới biết Đo đạc đại cương chỉ là cái móng tay so với nhiều môn khác, nếu mình chỉ bỏ ra một vài buổi học ôn thi là vào thi ngon lành vì thế khi đi lao động mọi kỹ năng về đo đạc mình quá xuất sắc. Đời rất chuối.
Công việc đo đạc cứ tuần tự và khá vất vả, bù lại là được ăn no và khá ngon. Khoảng đầu tháng 9/1972, trường có công văn báo lên: gọi các sv thi trượt môn Đo đạc về trường thi lại. Địa điểm thi tại khu C. Về thi lại đương nhiên là không phải lao động, lúc đó nhiều đứa tiếc là mình sao lại không thi trượt môn đo đạc nhỉ. Các con trời được bỏ lao động về trường thi lại trong đó có mình. Còn gì sướng bằng. Đêm đó có 3 tên gồm: Trung, Lương và a nàng Yến khoác túi đi ra ga Phủ đức để đi tàu đến Việt trì sau đó lại phải đi bộ ra bến phà qua sông Hồng vì cầu Việt Trì đã bị Không lực Hoa kỳ (USAF) dùng bom điều khiển tiện làm hai từ ba tháng trước. Lọ mọ đi bộ trên đường tàu và trời tối lắm, tối như... (tnâh là câu cửa miệng lúc bấy giờ). Cuối cùng cũng đến ga Bạch Hạc thì vừa hay tàu chuyển bánh.
(Nói thêm, Lương đã về đích tháng 11/2014 – có Trung, Thắng, Mỹ đều là K15T đi tiễn 64 năm cuộc đời bạn tại nhà riêng ở Phủ Lý - chuyện sẽ kể sau).
Khoảng sáng hôm sau tàu về đến ga Kim Anh, cả bọn lủi thủi về khu C, đi theo hướng chứ chẳng có đường gì chủ yếu là luống khoai, luống su hào mà đạp lên… 
Ở trường chừng ba ngày là thi xong, điểm thi được báo ngay, cả ba đều đạt (đạt là điểm thi lại) thế là thoát hiểm. Cả ba lại vác túi lếch thếch đi bộ ra phà Chèm về HN. Lúc bấy giừ chỉ chừng 30’ lại một cuộc oanh kích của USAF nhưng mà thây kệ nó chứ, chó cứ sửa ta cứ đi. Đến đầu đê thì nghe tiếng kẻng báo phà rời bến, bọn này mệt lắm nhưng vẫn cố chạy để kịp lên phà. Vừa hay đến mép nước thì phà rời bến, chỉ nhảy một bước nhỏ là lên được lưỡi phà nhưng Yến không nhảy nổi mà phà cứ trôi dần ra xa… Trên bến chỉ còn một mình Yến, nước mắt lưng tròng thui thủi một mình.
Sau đó tất cả lại về nhà nghỉ hè và không phải lên đền Hùng nữa vì đợt lao động đã kết thúc.
Riêng chỉ có Yến lên Hương Canh vì a nàng có bệnh gì đó phải nằm ở trạm xá của trường. Thật là định mệnh vì chỉ một hoặc hai ngày sau đó là ngày 10/9/1972 Mỹ ném bom xuống Trường ĐHXD tại Hương Canh. Trận bom khủng khiếp với bom phá, bom bi và bom napal tơi bời. Khu bệnh xá bị bom napal cháy rụi, đến gường tầng bằng thép cũng cháy. Tổn thất về người thật ghê gớm, chủ yếu là CBCNV của trường. Khoa TL có 2 người hy sinh là Lê Kim Yến K15T và Thuỷ (không nhớ họ) K14T, nhưng anh Thuỷ không chết bom mà là chết đuối khi bơi qua sông Cà lồ để tránh bom. Người duy nhất biết Yến lúc đang bom đạn là anh Nông Văn Bằng, Bằng người Nùng ở Cao Bằng. Cha Bằng này đau đầu kinh niên, học gắn liền với bệnh xá, Hắn là K13 tăng lên K14 rồi tăng tiếp lên K15, sau này ở K15 hắn thân với mình chỉ vì đều thích trốn học, …
Bằng kể lại lúc bắt đầu bị bom là bom phá sau đấy mới là bom bi và bom napal. Lúc đó nhà bệnh nhân nữ chỉ có Yến và nhà bệnh nhân nam chỉ có Bằng. Hết đợt bom phá Bằng gọi Yến ra, lúc ấy nhà đã đổ rồi mà Yến vì lẽ gì đó không ra được và sau đó là napal. Sau trận bom tất cả tan hoang, khu bệnh xá đất như nung thành gạch, các giường sắt cong queo, cháy rụi. Chỗ Yến chỉ còn một chút bột đen đen trắng trắng, có lẽ là Yến chui xuống gầm giường. Hồng nhan bạc mệnh, thế là Yến mãi mãi tuổi 20. Viết đến đây mắt mình cay quá chẳng biết mình sẽ viết gì nữa. Chuyện này chỉ có Yến, Bằng và tôi biết và bây giờ chia sẻ với các bạn trên FB.
Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của Yến trên bến phà Chèm khoảng ngày 2/9/1972 cái bóng dáng bé nhỏ với túi xách và nước mắt lưng tròng.
Khoảng tháng 10/1972 cả lớp tôi đến nhà thắp hương cho Yến ở KTT Bộ Công nghiệp nặng Phố Hai Bà Trưng, trên bàn thờ là ảnh Yến đội mũ tai bèo rộng vành thắt quai xinh vô cùng. Lúc mọi người thắp hương còn tôi thì bỏ ra ngoài cửa vì không muốn nhìn lên bàn thờ nữa. Ám ảnh quá.
Vừa rồi tôi có nói đến Nông Văn Bằng, hắn người Nùng ở Cao Bằng. mọi người còn nhớ cha này không, đến khoảng đầu năm 1975 hắn bỏ học mặc dù hắn là người dân tộc có quyền tăng K đến khi nào ra trường thì thôi, ai biết Bằng thì nhắn giúp cho Trung vào máy 0912946753. Mình còn nhớ cha này kín như hũ nút, ngủ cả ngày mắt lúc nào cũng lờ đờ như mắt cá chết. Hắn giống Kinh Vô Mạng trong Tiểu Lý phi đao của Kim Dung. Trông tưởng yếu nhưng hắn rất khoẻ và võ tàu rất khá. Hắn dạy mình vài chiêu thực chiến rất bá đạo, ra đòn là chết người. Hắn học dở nhưng thuộc chuyện TQ như cháo chảy. Nhà ở sát biên toàn sài đồ TQ xịn. 
Bắt chiếc Thái, một chút về tuổi thơ dữ dội.
Xa xưa nhà tôi ở làng Văn Tân. Làng Văn Tân giáp với làng Văn Chương nó kéo dài từ ga Hàng Cỏ đến sân Hàng Đẫy. Khoảng năm 1903 Pháp xây ga Hàng Cỏ nên các cư dân làng Văn Tân được tái định cư ra chủ yếu là phố Sinh từ và phố Khâm thiên và phần còn lại quanh khu vực Văn Miếu.
Đại đa phần người trong họ nhà tôi ở chuyển ra sống quanh Văn Miếu nhưng nhà tôi và vài nhà khác trong họ lại ra phố Khâm Thiên. Có nghĩa là từ năm 1903 thì nhà tôi ở số nhà 117 phố Khâm Thiên. Nhà 117 KT nó gồm 1 cổng rộng khoảng 2.5 m và một dãy nhà dọc 4 gian, 1 sân, 1 khu bếp, 1 sân nhỏ và cuối cùng là nhà tắm + WC, tổng cộng sâu khoảng hơn 30 m. Gian ngoài cùng bố mẹ tôi cho bác Ba Mại thuê, bác đặt một máy dệt vải màn, nhừng gian bên trong cho các gia đình chạy loạn cải cách lên HN thuê, họ là những người buôn thúng bán bưng. Phía sau nhà là cái ao rộng chừng 400 m2 thả rau muống. Cạnh nhà tôi là nhà 119 KT là nhà Trần Văn Cường, Cường học lớp 15X ĐHXD. Hiện nay Cường vẫn ở đấy.
Nguồn sống của gia đình chỉ dựa vào cái ngõ mà mẹ tôi bán quà sáng và vài đồng tiền cho thuê nhà èo uột. Tuy thế dưới bàn tay nhào nặn của mẹ cuộc sống vẫn đầy đủ mặc dù ông bố đi theo CM đi biền biệt hết nơi này nơi khác mà mấy mẹ con vẫn sống khoẻ, mẹ vĩ đại thật.
Những hôm mưa to, thả cửa bắt cá. Cá từ ao rạch lên sân cứ gọi là nối đuôi nhau. Bắt được cả ba ba, rắn các loại nhiều lắm. Nghĩ lại cũng thấy hay hay.
Nhà bán quà sáng thế là mặc nhiên tôi đi chơi sáng thả dàn vì mẹ bận bán hàng, còn buổi tối còn chơi dữ gấp ba buổi sáng. Các ông bạn chủ yếu là lứa 1950, 1951, 1952. Nghịch thì thôi rồi. Khi đi uống bia với Chiến ở KT tình cờ gặp lại ông bạn Hợp, cũng là một hảo thủ. Thật tình cờ lứa bạn thủa ấy hầu hết là tú tài toàn phần – tái tù toàn phần hoặc nói điệu hơn là tú tài tử, hầu hết là có tài lẻ, máu cờ bạc, nghiện hút. Nhưng cái đám ấy về già lại hoàn lương và lành vô cùng. Bọn họ đều có nghĩa khí, pha chút nghệ sỹ, biết đấm đá, biết giáo dục con em rất ngoan. Những lỗi lầm thời trai trẻ chủ yếu là bồng bột pha chút sỹ diện.
Hiện nay thì không còn vết tích gì của cái ao cũ nữa, đã là nhà hết cả rồi. cách đây vài năm ông Nguyễn Thế Chiến bạn tôi mua nhà tại ngõ Lệnh Cư, lần đầu tiên theo Chiến về nhà Chiến, tôi và Chiến gặp một tay gù hắn ở cạnh nhà Chiến và là chủ đất cũ. Lúc gập tôi hắn lắp bắp: Cháu chào cậu ạ… Nhà tay gù này vốn là một trong các gia đình mà nhà tôi cho ở xung quanh ao dần dần vật đổi sao dời nghiễm nhiên là chủ các mảnh đất ấy vốn của nhà tôi. Theo thói quen từ cha mẹ hắn đều gọi anh em tôi là cậu là cô, xưng cháu… hài vãi. Thôi thì mình đã chẳng ở, chẳng quản lý thì việc thay ngôi đổi chủ là lẽ đương nhiên. Hoá ra chuyện đất nhà ông Chiến ở hiện nay nguyên là của nhà tôi là như thế đấy.
Năm 1961 nhà tôi bán nhà 117 KT và chuyển lên ở nhà 221B KT. Đây là bước cơ động về đằng sau nghiêm trọng vì theo cách mạng không có khái niệm rút về đằng sau mà phải nói là cơ động về đằng sau cho đúng văn sách. 
Tuy nhiên tuổi thơ dữ dội của tôi vẫn gắn liền với nhà 117 KT. Một chút về tuổi thơ dữ dội (tiếp theo).
Phố Khâm Thiên nguyên là khu vực Đài Khâm thiên giám, có nghĩa là Đài Giám sát – Quan sát thiên văn thiên tượng. Về mặt khoa học đó là đài quan sát thiên văn nghiên cứu sự dịch chuyển của các vì sao. Về mặt tượng số nó đáng giá các sự thay đổi của thời tiết, thời vụ phục vụ canh tác nông nghiệp. Tuy nhiên mỗi khi có thiên tai, dịch bệnh, giặc giã thì Vua - Thiên Tử - Ông con trời phải tự mình trai tịnh, tắm gội sạch sẽ đăng đàn để cầu khẩn Trời - Đất - Quỷ thần đừng gieo tai hoạ. Phố Khâm Thiên có nhiều ngõ mang tên các chòm sao lớn, như Ngõ Thiên Hùng (tên chòm sao Đại Hùng Tinh) Ngõ Sơn Nam. Ngõ Lệnh cư là nơi một Hào trưởng đánh trống lệnh để các người dân tập trung lại đi theo Hai Bà Trưng đánh Thái thú Tô Định, đó là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong 1000 năm Bắc thuộc. Ngõ Thổ quan là nơi ở của vị Hào trưởng hưởng ứng lời kêu gọi khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Có một thời gian Ngõ Thổ quan được gọi với tên là ngõ Trại khách bởi vì thời thuộc Pháp có một số Hoa kiều – còn gọi là Khách trú ở đây vì thế có tên là Trại khách. Dấu tích về Đài Khâm thiên giám thì không tìm ra nhưng gần đây tìm thấy dấu tích của Đài Xã Đàn trên địa phận làng Xã Đàn cũ.
Có thể nói vùng đất của các cư dân Việt trên khu vực Khâm Thiên có lịch sử, có tuổi đời lớn nhất cả nước. Có lẽ cái mảng này nghiên cứu này sẽ được bổ khuyết dần để cho mọi người hiểu rõ về vùng đất thiêng liêng này. Nhưng theo riêng ý kiến của cá nhân tôi thì những chiến binh đầu tiên của Quang Trung Hoàng Đế vào giải phóng Kinh Đô Thăng Long là đặt những bước chân thần tốc tại Khâm thiên bởi vì lý do dễ hiểu này. Đây là FB bạn nào có phát hiện gì khác thì cứ việc bổ khuyết. Bởi vì:
Con đường thiên lý theo trục Bắc – Nam đi từ phía nam vào Kinh Đô Thăng Long thời kỳ Tây Sơn như sau
1) Đi từ các tỉnh phía nam (Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Nam) đến Phủ lý thì con đường thiên lý vẫn trùng với QL1 hiện nay
2) Từ Phủ lý đường thiên lý đi theo tuyến dọc đê sông Đáy đến Chương Mỹ rồi quay về Thăng Long
3) Từ Phủ lý về Thăng Long là đường nhỏ. Đến tận thời kỳ thuộc Pháp mới mở QL1 như hiện nay.
Đại quân của Quang Trung Hoàng Đế đến Phủ lý buộc phải chia làm 2 cánh quân. 
Cánh quân 1: Do chính Quang Trung thống xuất, đây là quả đấm thép.
Quả đấm thép của Quang Trung là tượng binh không thể đi trên tiểu lộ được và phải đi theo tuyến đường thiên lý về Chương Mỹ tiếp theo về Thăng Long theo đường QL6 như hiện nay. Đương nhiên cánh quân này được ưu tiên nhất, tướng giỏi, quân đông nhưng không phải quân có quê quán ở quanh vùng Thăng Long, không quen đường sá. Bù lại đường to dễ đi, khắc đi, khắc đến (ứng với câu muôn nẻo đường rồi cũng đến kinh đô La Mã)
Cánh quân 2: Do chính Đô Đốc Đặng Tiến Đông thống xuất, đây là kỵ binh, lực lượng đặc biệt tinh nhuệ đánh hiểm thắng nhanh, quân là người gốc Bắc là chính, thông thạo địa hình, cùng một khẩu ngữ, dễ trà trộn vào trong dân thám báo, dò la…
Kết quả thì ai cũng biết là Quang Trung Hoàng Đế đại thắng. Nhưng ai là người vào Thăng Long đầu tiên.
Các nhà sử học giỏi sử, dốt toán đéo thể nghĩ ra câu này (bản quyền VTT)
Voi đi một ngày 30 km, cứ cho thời gian đánh trên đường bằng 0. Con lậy Ngài Quang Trung Hoàng Đế 3 lậy để cho con nói tiếp. Ngài đi từ Phủ Lý về Thăng Long theo đường Thiên lý là 120 km. Vị chi Ngài đi mất 4 ngày ạ. (chưa kể thời gian đánh đấm)
Trong khi đó từ Phủ lý về Thăng Long theo tiểu lộ dài 60 km, Đô Đốc Đặng Tiến Đông dùng ngựa đi không mất quá 2 h. Đô Đốc Đặng Tiến Đông đánh hai cứ điểm là Hà Hồi và Ngọc Hồi mỗi cứ điểm này đánh trong 1 đêm vị chi cả đi đường vừa đáng giặc mất 3 ngày và vào Thăng Long đánh trận cuối cùng tại Khương Thượng mất thêm 1 ngày nữa là 4 ngày, sáng mùng năm tết đã kết thúc chiến sự. Chiều mùng năm tết Quang Trung Hoàng Đế vào Thăng Long. Khi gập Quang Trung Hoàng Đế, Đô Đốc Đặng Tiến Đông quỳ xuống tạ tội chỉ vì tội vào Thăng Long trước vua. Quang Trung Hoàng Đế xuống ngựa nâng Đô Đốc Đặng Tiến Đông dậy và Ngài nói: ta có bầy tôi giỏi hơn cả ta, ta còn chưa kịp thưởng được làm sao mà có tội chứ. Ngài tự tay cởi chiến bào khoác lên người Đô Đốc Đặng Tiến Đông – Trích Thăng long ký sự, sẽ viết, tác giả Vũ Trọng Trung, phần này tạm đăng trên Fb trước coi như món quà ra mắt HƯƠNG CANH - Một Thời Để Nhớ! 
Một chút về tuổi thơ dữ dội (tiếp theo).
Công trường Hồ Núi Cốc năm 1974. Năm đó chúng tôi đi thực tập công nhân. Tôi được biên chế vào tổ khoan đá nổ mìn ở đập tràn. Chúng tôi khoan đá nổ mìn là chính ngoài ra chúng tôi còn tham gia thi công lắp dựng cốt thép và thi công đổ BTCT móng cống lấy nước… 
Thời gian ở tổ thi công cống lấy nước có chị Mai là tổ trưởng, bọn tôi thường gọi chị là Hàn Mai Mai. Chị Mai tốt lắm, chị ghép tôi với một cô em út trong tổ, nàng tên là Thanh Tâm. Thanh Tâm là một cô gái rất xinh là hoa khôi của công trường Hồ Núi Cốc những năm 1974 - 1975.
Từ khi biết nàng, tối nào tôi cũng đến nhà tập thể để tán tỉnh nàng. Cho đến hôm trước khi hết đợt thực tập công nhân nàng mới đồng ý đi chơi tối với tôi. Theo nội quy công trường thì 22 h là tắt điện (điện chạy máy phát) mọi người nếu không phải làm ca hoặc trực phải đi ngủ. Tuy nhiên lần đầu được đi chơi với nhau thì quên đi, bọn tôi cứ lặng lẽ over night. 
Đến sáng, trước lúc chia tay, hai đứa ôm chặt lấy nhau, hôn nhau nhiệt tình rồi lặng lẽ chia tay và cũng chẳng nói gì. Sau đó tuy hai đứa vẫn nghĩ về nhau nhưng chẳng có thư từ, hỏi han nhau gì cả, vì đều nghĩ rằng chuyện này sẽ không đi đến đâu, đời vẫn là thế cho dù có nhiều kỷ niệm đẹp.
Công trường Hồ Núi Cốc năm 1975. Năm đó chúng tôi đi thực tập cán bộ. Đó là lần thực tập cuối cùng trong đời học sinh. Lúc đó tôi tập làm cán bộ phụ trách 2 tổ thi công kênh chính gồm một tổ nam và một tổ nữ.
Tổ nam là các tù binh VNCH. Nhưng họ lại là con em các cán bộ cao cấp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Họ được ưu đãi, họ được học tập, được cải tạo và được tổ chức thành các tổ đội lao động trên công trường. Nói chung họ khoẻ mạnh, nhiều tài lẻ, chấp hành kỷ luật và cũng khá được tự do. Một trong các người đó tôi có nhiều cảm tình, anh ấy là cháu của Tố Hữu, tôi không nhớ tên. Anh ta khá to con, đẹp trai, chơi guitar, giỏi võ và hát hay… Không biết các anh này giờ đang ở đâu.
Tổ nữ là các công nhân của công trường và nàng là công nhân trong tổ thi công kênh do tôi phụ trách, nghĩa là tôi lại có nhiều điều kiện để gần nàng. 
Thế là tối tối tôi lại đến nhà tập thể để tán tỉnh người đẹp.
Nhưng sau một năm con người ta trưởng thành ghê gớm. Nàng đã già giặn hơn nhiều, nàng càng đẹp hơn, rực rỡ hơn, căng tràn hơn, kiêu hãnh hơn.
Buổi tối, ở nhà lán tập thể nàng còn nói chuyện với tôi. Ban ngày, ngoài công trường nàng gần như chẳng thèm đưa mắt nhìn tôi chứ đừng nói là nói chuyện. Nàng kín đáo và rất khó suy xét. Đợt thực tập theo kế hoạch là ba tháng và đã đi được gần một tháng rồi mà mối quan hệ của tôi và nàng vẫn chưa đâu vào đâu.
Cuộc tình tái hồi Kim Trọng này bỗng rẽ theo một hướng khác do là một sự kiện trọng đại của đất nước xẩy ra.
Ngày 1 tháng 5 năm 1975. Lúc 9 h 30 đài phát thanh trên công trường thông báo: Đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Nam Bắc một nhà. Niềm vui vỡ oà, trên công trường người thì nhẩy cẫng lên la hét, người thì ôm mặt khóc, còn nàng ngồi thụp xuống khóc nức nở. Lúc đó tôi như một người anh trong nhà bước đến bên nàng và nâng nàng dậy. Gần như vô thức nàng gục vào vai tôi khóc. Đây là lần đầu tiên nàng ôm tôi và gục vào vai tôi khóc trước mắt mọi người.
Chiều hôm đó cả công trường rợp cờ sao, mit tinh và sau đó phổ biến chuyện rút một số cán bộ công nhân của công trường đi vào chi viện cho vùng mới giải phóng. Nàng là một trong số đó. Thật là vui buồn lẫn lộn.
Tối hôm đó tôi gặp nàng và hai đứa lại over night.
Một đêm bên nhau. Dòng sông Công vào đêm trăng sáng, đẹp mềm cả lòng, đất trời sáng vằng vặc mà chỉ có hai đứa. Hai đứa chẳng nói gì nhiều mà chỉ hết ôm nhau lại buông nhau ra để rồi lại vuốt tóc cho nhau, lại ôm nhau, ôm nhau để nghe nhịp tim, nghẹt thở quá mới buông tay ra… 
Bấy giờ nàng mới tâm sự, nàng là con của một CB miền nam tập kết ra bắc quê ở Bình Định, mẹ ở Bắc Giang. Năm 1955, nàng sinh ra tại Bắc Giang… và nàng cũng rất muốn về quê nội.
Sáng hôm sau, ngày 2 tháng 5 năm 1975 các cán bộ tăng cường cho vùng giải phóng lên đường. Tôi biết là cuộc tình đã chấm dứt nhưng vẫn cố ra vẻ bình thản tiễn nàng ra xe. Trước khi xe chuyển bánh và thật bất ngờ nàng nói nhỏ với tôi: bọn em về tập chung tại VP Bộ Thuỷ lợi để tập huấn trước khi đi nam.
Đang trong tâm trạng vô vọng như vậy hỏi còn gì vui hơn, tôi mừng lắm và nghĩ ngay ra phương án gặp nàng. Tôi vẫn ra công trường giao việc cho các tổ đội làm như thường ngày. Sau đó rất nhanh tôi lặng lẽ đi bộ ra ga Thái Nguyên và chẳng nói với ai một câu nào. Từ công trường ga Thái Nguyên khoảng 12-15 km. Trời nắng như đổ lửa nhưng vẫn không bằng lửa đang đốt trong lòng tôi.
Rất may ra đến Thái Nguyên là vừa hay có tàu về Hà Nội. Khoảng 14h 30 tàu về đến ga Đầu cầu, tôi xuống tàu đi về phía VP Bộ Thuỷ lợi ở đường Trần Quang Khải. Cũng chỉ mất chừng mươi phút sau là tôi gập nàng. Nàng mừng vô cùng, nàng bắt tôi chờ ngoài cửa nhà khách Bộ Thuỷ lợi, đợi nàng một chút để nàng vào nói với các chị em trong tổ là đi thăm người họ hàng ở gần đấy và sau đó ra đi với tôi. Thế là hai đứa lại tiếp tục kéo bộ từ đường Trần Quang Khải về nhà tôi ở phố Khâm thiên.
Về đến nhà tôi khoảng 5 giờ chiều. Nhà tôi không có ai, mẹ thì làm trong cơ sở 2 của Nhà máy thuốc lá Thăng Long trong Hà Đông cuối tuần mới về, bố và cậu em út đang ở trong Quảng Trị, anh là bộ đội cũng không có nhà, cô em gái đang ở nhà chồng. Như vậy ở nhà chỉ có tôi và nàng, một mái tranh với hai trái tim vàng thì còn gì bằng. Bây giừ mới thấm thía câu các cụ: Đôi ta gặp ở nhau đây, như con bò gầy gặp bãi cỏ non.
Lúc đó tôi có cảm giác mình là chồng của nàng, chăm chút cho nàng, việc đầu tiên là tôi xách nước vào nhà tắm cho nàng sau đó thì lo bữa tối. 
(….)
Tối đó mất điện, thời gian đó HN mất điện là thường xuyên, ăn tối xong chỉ còn mỗi một việc là lên giường nằm và thả dàn trò chuyện...
Nhà tôi nhỏ gồm 2 gian, mỗi gian kê một gường, chỗ ngủ của tôi là ở trên gác xép, gác xép rộng bằng cả hai gian ở dưới. Tuy không có ai ở nhà nhưng chúng tôi vẫn có ý và hai đứa leo lên gác xép. 
Đúng là một bầu trời riêng trong một bầu trời riêng… Một đêm ân ái mặn nồng, không nói hết được.
Sáng 3/5/1975 Hai đứa lại lếch thếch kéo bộ ra nhà khách Bộ Thuỷ lợi. Nàng ở lại tập huấn và tôi lại ra ga Đầu cầu đáp tàu hoả lên Thái nguyên. 
Cả hai đều linh cảm chuyện hai đứa mình cũng không biết rồi sẽ ra sao.
Trước khi đi, tôi dặn nàng chừng 10 ngày sau tôi lại về HN. Còn nàng dặn tôi nếu tôi về không gập nàng thì hỏi bác bảo vệ ở nhà khách sẽ biết địa chỉ của nàng dặn lại và biết tìm nàng ở đâu. Cứ y như là dị bản của chuyện áo lông ngỗng... 
Chiều hôm đó tôi đã có mặt tại công trường. Tôi nói dối quanh về việc ngày hôm qua nên mọi người chẳng biết là ngày hôm qua tôi đã về HN và đã trải qua một cuộc tình tuyệt vời với bao ngổn ngang day dứt...
Công việc càng ngày càng gấp và mười ngày sau đó tôi cũng không thể về HN được vì tiến độ thi công của công trường. Bất khả kháng.
Còn về phần nàng, chủ nhật sau đó nàng chờ tôi và mãi không gập, cuối cùng nàng đã đến nhà tôi với hy vọng may ra hai đứa gặp nhau.
Hôm đó mẹ tôi có nhà và anh trai tôi ở đơn vị cũng về thăm nhà. Nàng không gặp tôi nhưng bù lại nàng gặp mẹ và anh trai tôi. 
Linh tính của người mẹ mách cho mẹ tôi biết đây là người yêu của con trai mình. Mẹ cũng chu đáo và có ý vun vào. 
(….)
Trước lúc chào mẹ tôi ra về, nàng nói trong nước mắt với mẹ tôi rằng nàng không có duyên được làm con dâu của mẹ vì nhiều lý do khó có thể vượt qua… 
Khoảng cuối tháng 5 năm 1975 nàng vô nam.
Sau này, khoảng tháng 10 năm 1975 tôi nhận được một bức thư và là bức thư duy nhất của nàng gửi cho tôi từ Bình Định, theo dấu bưu điện. Không có địa chỉ nào để hồi âm, bặt vô âm tín… thật vô lý cả tôi và nàng đã bức tử một cuộc tình.
Nhiêu lần tôi hỏi thăm về nàng mà không tìm ra dấu vết của con chim trời cá nước này. 
Đúng là giai nhân nan tái đắc. 
Thế rồi mọi việc lại đâu vào đấy, nước chảy, bèo trôi, tôi lấy vợ… 
Còn nàng quả thật là tôi không biết gì. 
Mỗi khi nghe bài Yesterday của John Lennon thấy thấm thía. 
Đã 41 năm trôi qua, bóng câu qua thềm, nhớ lại chuyện cũ, đành mượn lời của Lý Diên Niên:
Giai nhân ca 
Bắc phương hữu giai nhân, 
Tuyệt thế nhi độc lập. 
Nhất cố khuynh nhân thành, 
Tái cố khuynh nhân quốc. 
Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc, 
Giai nhân nan tái đắc Phương Bắc có một giai nhân, 
Dung nhan nàng đẹp tuyệt trần như tiên. 
Nàng liếc thành đã ngả nghiêng, 
Nàng liếc lần nữa đảo điên sơn hà. 
Tìm mãi trong cõi gần xa,
Vẫn không gặp lại người mà tôi yêu.
(Vũ Trọng Trung phỏng dịch)