Tượng đài

Tặng bạn bè và đồng đội của tôi!

 PHÁC THẢO TRONG ĐÊM BOM

Kiến trúc sư Hoàng Vũ đứng trước những phương án dự thi của sinh viên trong khoa. Ông như không tin vào mắt mình, lặng lẽ với chiếc khăn trên dây rồi tháo cặp kính ra lau đi lau lại đôi mắt kính. Ông reo lên kinh ngạc:

          - Tại sao lại thế được? tại sao lại có thể có một sự trùng hợp đến lạ kỳ như vậy đươc?

          Hoàng Vũ đi lại trong phòng vẻ mặt đăm chiêu. Ông lại lẩm bẩm tự hỏi:

          - Tại sao cậu bé PLin người Cơ Ho quê tít tận cao nguyên Lâm Đồng lại có được ý tưởng này. Tại sao thế này Lê Hoàng ơi, đây là ý tưởng của cậu cơ mà? -  ông đến bên cửa sổ, lặng lẽ nhìn ra ngoài trời. Khoảng trời xanh ngắt không một gợn mây – Lê Hoàng, mình xin lỗi cậu, đã hơn hai mươi năm qua đi rồi vậy mà mình chưa thực hiện được lời hứa với cậu. Lê Hoàng ơi mình không hiểu nổi tại sao cậu bé Tây Nguyên này lại có bức phác thảo tượng đài. Có phải cậu đã run rủi chú bé này đến với nình không? hay là cậu còn sống? Không, không lẽ nào cậu còn sống mà không tìm về...

          Trước mắt Hoàng Vũ hiện ra cả một vùng đồi trung du. Cái vùng đất đầy sỏi sạn với những quả đồi độc canh một loại cây Bạch đàn. Dưới cánh rừng ấy ẩn chứa toàn bộ cơ ngơi mái trường đại học mà ông theo học. Hoàng Vũ như nghe bên tai mình vang vọng lên tiếng hát. Bài hát của một thời sinh viên sôi nổi. Bài hát của một thời trái tim và dòng máu luôn được hâm nóng bằng ngọn lửa nhiệt tình cách mạng:

          “Âm vang muôn tiếng ca truyền đi trong màn đêm. Bập bùng lửa căm hờn, hòa với tiếng hát ngày đêm. Ta đi khơi sáng thêm ngọn đuốc thiêng từ bao đời. Bài ca bốc lửa cháy trong tim ta bạn ơi... ”

          Đã nhiều đêm nay, trong cánh rừng Bạch đàn này luôn vang lên tiếng hát. Tiếng đàn ghi ta bập bùng, hòa với tiếng gõ thìa, gõ bát làm thành dàn nhạc đệm cho những giọng hát đến cháy cổ. Chỉ con hai ngày nữa thôi, tại đây sẽ có cuộc đại chia tay. Chiến trường đang cần người. Chủ tịch nước đã phát lệnh tổng động viên. Sinh viên các trường đại học ồ ạt ra đi. Lớp mười ba Ka Tê của anh ngày đầu có gần sáu chục người, vậy mà sau bốn năm học chỉ còn lại chưa đầy một nửa. Những người bạn cứ lần lượt ra đi mà chưa thấy ai trở về. Đợt này lớp có thêm bốn người sẽ ra đi, trong đó có anh.

          Đêm nay ánh trăng bàng bạc phủ trên cánh rừng. Họ ngồi bên nhau, hai nam và một nữ. Đó là Hoàng Vũ, Lê Hoàng và Kim Dung.  Cái bộ ba ngay từ thủa nhập trường đã luôn tỏ ra thân thiết, khiến các bạn cùng lớp đặt cho cái tên ngồ ngộ là “ Xe, pháo, mã một tịt ”. Bộ ba đang ngồi nhắc lại những kỷ niệm từ hồi mới nhập trường. Lê Hoàng nắm tay hai bạn nói:

            Hai bạn ở lại học và làm tốt nghiệp cho xong, đợt này mình đi rồi!

            Mình cũng đi đợt này – Hoàng Vũ tiếp lời.

Kim Dung phụng phịu:

- Mọi người rủ nhau đi hết à? thế thì còn ai ở lại học nữa. Quay đi quay lại chỉ còn mấy đứa con gái, buồn chết đi được.

          - Hoàng Vũ chưa đi đợt này đâu, mắt cậu cận nặng thế đi sao được!

          - Tổng động viên rồi, có trừ ai đâu. Hôm đi khám, mắt mình chẳng nhìn thấy gì. Ông bác sĩ quân y bảo mình đeo kính vào mà nhìn. Thế rồi ông ấy ghi xoẹt vào giấy cả hai mắt mười một phần mười. Thôi kệ, đi cũng được, chẳng sao. Lê Hoàng này nhà cậu có anh trai là liệt sỹ, sao cậu không đề nghị với trường, với khoa...

          - Nhà mình có ba thằng con trai, chết thêm thằng nữa vẫn còn một. Sau chiến tranh, còn sống về học tiếp cũng chẳng sao. Nói thật, mình cũng chẳng anh hùng gì, nhưng cứ nghĩ đến thằng San “toóc” bên khoa máy là mình lại thấy nhục thay cho nó. Lần nào cũng thế, nó tìm mọi cách để trốn, dùng đủ mánh khóe để bị loại. Thực tình, làm người có ai muốn lao vào chỗ chết đâu các cậu. Chẳng ai bảo rằng tôi không sợ chết, đứa nào nói thế chẳng qua chỉ là nói khoác. Đang yên đang lành, học hành tử tế, giờ phải vứt sách vở đấy mà đi vào nơi mà cái chết lúc nào cũng rình rập vây quanh, xót xa lắm chứ.

          Hoàng Vũ cười phá lên khiến Kim Dung không hiểu sao, cô nhìn Lê Hoàng ngơ ngác. Hoàng Vũ nói:

          Mình buồn cười lão Nữa phòng tổ chức. Hôm ấy lão biết thằng San “toóc” dở trò ma mãnh để trốn mà không làm sao được. Lão nghiến răng, mặt nhăn nhúm, hai tay nắm chặt dứ dứ vào mặt nó, nói : “Ngày mai về trường cậu biết tay tôi ... Loại người như cậu chỉ có mà đi gắp.. c.ứ.t ...” lão kéo dài tiếng cuối y như một anh kép bị lạc mất giọng, nghe lại càng buồn cười ..

          Kim Dung buồn não cả ruột, giọng cô lạc hẳn đi:

          - Mọi người đi cả , biết bao giờ gặp lại? - Thôi, Dung về trước đây - Kim Dung đứng dậy chạy về ký túc xá, vừa chạy cô vừa lấy tay quệt nước mắt.

*

*   *

          Lớp trưởng Lê Xuyên nâng bát rượu ngang mặt, mắt chớp chớp, nói :

          - Tôi đề nghị các bạn, chúng ta uống chung bát rượu này, để chia tay những người bạn thân thiết của chúng ta. Ngày mai các bạn sẽ lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc! Xin mời các bạn Lê Hoàng, Hoàng Vũ, Trần Ban, Trọng Nghĩa và Nguyễn văn Chi. Chúc cho các bạn ra đi chân cứng đá mềm. Sớm giải phóng miền Nam để trở về tiếp tục học tập.

          Bát rượu được chuyền qua tay từng ngưòi lặng lẽ. Những cặp mắt nhìn nhau ướt lệ. Họ không nói với nhau điều gì, những cuộc chia tay kiểu này đối với họ từ ngày nhập trường, năm nào cũng diễn ra ... nhưng lần này có cái gì đó xót xa hơn những lần trước, bởi vì thời gian học và làm đồ án tốt nghiệp không còn đáng là bao nữa. Thời gian ấy chỉ được tính bằng tháng, bằng tuần ... Bát rượu chưa qua hết một vòng tay mọi người ... Tiếng bom nổ đinh tai, mâm bát bị hất tung lên...

          - Nằm xuống, ném bom rồi! - Nguyễn Khoa thét vang, cái bản năng người lính như được hồi sinh trong anh, anh ra lệnh - Dứt đợt bom tất cả chạy ngay ra hầm ...

          Mặt đất rung lên liên tục. Những tiếng nổ nối tiếp nhau không dứt.

          Đêm xuống dần , ngọn lửa từ những ngôi nhà cháy dở chốc chốc lại bùng lên . Trường ra lệnh cho các khoa sơ tán vào các vùng lân cận ở nhờ nhà dân. Hoàng Vũ, Lê Hoàng, Trần Ban, Trọng Nghĩa và một số nam sinh viên được điều động đi khắc phục hậu quả của trận bom Mỹ. Họ tản ra trong đêm, không gian khét lẹt mùi thịt người chết cháy. Hội trường lớn - “ Ngôi nhà rông” của trường - giờ chỉ còn trơ lại những cây cột nham nhở, ánh lửa leo lét chốc chốc lại bùng lên. Những cây Bạch đàn vốn dẻo dai là thế mà giờ đây gẫy đổ ngổn ngang. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Sanh gục bên thi hài vợ. Cạnh ông là đứa con trai duy nhất chưa đầy năm tuổi. Người ta tìm thấy vợ ông mỗi nơi mỗi mảnh. Lê Hoàng, Hoàng Vũ cùng mấy thầy giáo trong khoa lặng lẽ cúi đầu. Thầy Nguyễn Sanh nói trong tiếng nức nở khi ông thấy một đồng nghiệp đang gắng tháo chiếc nhẫn từ ngón tay sưng tím của vợ ông:

          - Thôi mấy em ơi! Hãy để đó cho chị ấy, đây là kỉ vật anh trao cho chị ngày cưới, đừng tháo ra mà tội nghiệp .

          Ngày thường cái giọng miền trung Nam bộ của ông nghe đã đễ thương, giờ đây nghe mà thấy đau thắt ruột. Mọi người cùng oà khóc.

          - Thầy, thầy hãy giữ lấy kỉ vật này cho cháu làm kỉ niệm về chị ấy ! - anh Chấn hai tay run run đeo chiếc nhẫn vào ngón tay thầy Nguyễn Sanh, giọng sụt sùi.

          Khu đồi Gò Héo trơ trụi, những thân Bạch đàn trơ trụi như những cánh tay đang chới với muốn níu kéo sự sinh tồn. Từng tốp người lầm lũi đi, những chiếc quan tài lầm lũi đi. Tất cả khắc lên khoảng trời đêm một bức tranh rợn người. Gió thổi bạt những tàn lửa từ những cây hương cắm trên những chiếc quan tài, trông tựa những vệt sao băng từ một nơi rất xa. Nắm tay Hoàng Vũ, Lê Hoàng chỉ về phía đoàn người, đanh giọng :

          -  Sau chiến tranh, nếu còn sống trở về, tao sẽ đề nghị cho xây dựng  tại đây, trên đỉnh Gò Héo này một nhóm tượng đài. - Lê Hoàng bỗng nức nở - Tượng đài dành cho bạn bè.

                                                *

                                                *    *

          Khu trung tâm chỉ huy địch bị chìm trong bể lửa .

          Vũ Hoàng thét lên tưởng muốn vỡ tổ hợp VTĐ :

          - Chú ý bên trái, vọt lên đi! sao mày như gà mắc tóc vậy Hoàng ơi! - Hoàng Vũ quên cả nguyên tắc liên lạc, anh gọi thẳng tên Lê Hoàng .

          Một lưỡi lửa xanh lét lao vào chiếc Tê năm tư của Lê Hoàng, ngọn lửa bùng lên nuốt gọn chiếc xe.

          - Chết mẹ nó rồi - Vũ Hoàng thét lên đau đớn, anh ra lệnh lạc cả giọng - ba mươi độ trái, cự li năm mươi, đạn xuyên, bắn!

          Lô cốt địch tắt ngấm. Xe của Hoàng Vũ lướt tới, phía trước mũi xe , mấy thằng mặc đồ rằn ri chạy cuống cuồng, ngã dúi dụi. Chiếc xe tăng chồm lên như con mãnh thú vồ mồi ...

          Hoàng Vũ đề nghị đơn vị cho anh được vào tìm xác Lê Hoàng và những đồng đội đã hy sinh. Trong màn đêm, Hoàng Vũ vẫn xác định được đúng nơi chiếc xe tăng của Lê Hoàng bị bắn cháy. Giữa những ngổn ngang nham nhở này, anh vẫn khẳng định không thể nhầm lẫn được. Vậy thì chiếc xe tăng đã biến đi đâu mất? Lê Hoàng và các đồng đội của anh cũng biến đi đâu? linh tính báo cho Hoàng Vũ biết có điều chẳng lành, anh thầm gọi: Lê Hoàng ơi! mày ở đâu?

          Tiếng trực thăng phạch phạch mỗi lúc một gần. Ngọn đèn đỏ nhấp nháy trên trời. Giọng thằng tâm lý chiến oang oang :

          - Hỡi anh em binh lính Bắc Việt! Anh em hãy mau chóng trở về với chánh nghĩa quốc gia. Đừng để uổng phí tuổi xuân, tương lai đang chờ anh em, đừng nghe dại cộng sản mà chết uổng mạng. Trong trận đánh vừa qua, quân đội Việt nam Cộng hoà đã tiêu diệt gọn cả trung đoàn tăng của Cộng quân, bắt sống nhiều chiếc ...

          Hoàng Vũ giật thót người, vậy là chúng đã bốc cả chiếc Tê năm tư của Lê Hoàng đi rồi, anh chửi :

          - Mẹ cha chúng mày, một tiểu đoàn của bố đánh nhau với chúng mày, vậy mà mày đã bốc phét lên là cả trung đoàn. Chỉ một chiếc bị bắn cháy, vậy mà mày kêu bắt sống nhiều chiếc - Không ghìm được, Hoàng Vũ giương Aka  xả cả băng đạn vào chiếc trực thăng. Thằng giặc lái hốt hoảng vọt lên cao rồi chuồn thẳng. Hoàng Vũ cùng mấy anh em nhanh chóng rút về nơi tập kết.  Trên đường về anh không nói một lời nào. Anh như thấy Lê Hoàng đang đi bên anh, cái giọng khúc triết của Lê Hoàng vang lên trong tai anh :

          - Hoàng Vũ ơi! mày còn nhớ cái đêm Mỹ ném bom trường mình không? mày còn nhớ chúng mình đi chôn những người bị chết trong trận bom ấy không? Tao không thể nào quên được những thân bạch đàn trơ trụi như những cánh tay đang chới với muốn níu kéo sự sinh tồn. Từng tốp người lầm lũi đi. Những chiếc quan tài lầm lũi đi. Những vệt sao băng từ một cõi xa xăm...

          Hoàng Vũ thét lên :

          - Nhớ, tao nhớ rồi Lê Hoàng ơi! - rồi anh thầm thì như đang tâm sự với người cùng đi - Bức phác thảo nhóm tượng đài của mày tao còn giữ đây, Lê Hoàng ơi! nếu tao còn sống trở về, tao sẽ thực hiện ý nguyện của mày. Cái phác thảo “ Tượng đài dành cho bạn bè ” của mày, ngoài căn hầm chữ A như chiếc com pa cắm hai chân xuống đất, chiếc bàn vẽ bị lật nghiêng. Hai người một nam, một nữ đang dìu nhau xuống hầm, và kia nữa từng tốp, từng tốp người đang khênh trên vai những chiếc quan tài, lầm lũi bước. Lê Hoàng ơi! tao sẽ thêm vào đó một chiếc xe răng Tê năm tư mang số Hai không bảy của mày nữa! Còn cái điều mày nói với tao về Kim Dung, mày hiểu tao chứ Lê Hoàng? mày thừa biết là tao cũng yêu Kim Dung như mày. Nhưng mày là bạn tao, tao không thể tranh nhau với mày được, tao không thể làm khác được ngoài sự im lặng mà vun đắp cho hạnh phúc của chúng mày. Cái điều mày yêu cầu tao nếu mày chết thì tao sẽ thay mày lấy Kim Dung, liệu tao có làm nổi không? Giờ đây Kim Dung đã là một kiến trúc sư rồi, còn những thằng lính như tao với mày, vẫn chẳng là cái gì cả. Cuộc đời binh nghiệp này sẽ còn đeo đuổi chúng mình tới bao giờ, liệu có cái ngày trở lại mái trường xưa nữa hay không? Chiến tranh bao giờ mới kết thúc, tao sợ khi ấy trở về vắng mày và biết đâu cả tao nữa, chúng mình sẽ chẳng bao giờ trở về.

*

*   *

          Hoàng Vũ trở lại trường sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Anh tìm hỏi tin tức về Kim Dung. Anh được tin Kim Dung qua những người quen cũ. Hoàng Vũ không ngờ Kim Dung lại gặp nhiều trắc trở như vậy. Lần tìm đến căn lều tranh của Kim Dung, thấy cửa hé mở, Hoàng Vũ lách người bước vào. Kim Dung không có nhà, một bé gái chừng hơn ba tuổi đang nằm ngủ ngon lành trên chiếc võng. Hoàng Vũ nhận ngay ra chiếc võng của Lê Hoàng. Ngày ấy trước khi đi Bê, Lê Hoàng đã “ đánh rơi ” chiếc võng sau lần về thăm người yêu. Đơn vị cũng làm cho Lê Hoàng khổ sở về tội làm mất quân tư trang. Hoàng Vũ đặt ba lô lên chiếc giường cá nhân, anh tới bên võng yên lặng ngắm đứa bé. Cái nét mặt bầu bĩnh này là của Kim Dung, cái miệng hình trái tim này cũng là của Kim Dung, riêng cái mũi dọc dừa sao mà giống mũi Lê Hoàng đến thế! Hoàng Vũ khẽ a lên kinh ngạc, anh tự hỏi hay đây chính là con của Lê Hoàng? Tại sao Kim Dung chịu mang tiếng, chịu kỉ luật vì không nói ra cha đứa trẻ là ai? Hoàng Vũ như hiểu ra tất cả, anh ân hận vì khi trở về nghe tin Kim Dung có con, anh đã thầm trách cô là người bội bạc và hư hỏng. Anh nhớ tới Lê Hoàng, anh thầm gọi: Lê Hoàng ơi! cậu đã có một thiên thần, ước gì cậu biết được điều này ...

          Cửa kẹt mở. Kim Dung bước vào. Nhìn thấy Hoàng Vũ, Kim Dung đứng chết lặng, rồi cô từ từ khuỵu xuống. Hoàng Vũ chạy tới đỡ Kim Dung. Anh dìu cô tới bên giường. Kim Dung bừng tỉnh, cô ôm ghì lấy Hoàng Vũ, gục đầu vào ngực anh nức nở :

          - Sao bây giờ mới về Vũ ơi? Trời ơi! sao Lê Hoàng lại không về? tại sao? nói đi Hoàng, tại sao anh ấy không về ?

          - Kim Dung chưa biết sao? - Hoàng Vũ nghẹn ngào ...

          - Lê Hoàng hy sinh rồi phải không? - Kim Dung thét lên kinh hoàng.

          Bé gái nghe tiếng mẹ, giật mình choàng tỉnh, ngơ ngác nhìn. Kim Dung nhào tới bên con, bế con lên, cô nói với con mà như nói với chính mình:

          - Bố con không về nữa đâu! con gái bé bỏng của mẹ. Mẹ con ta biết làm sao bây giờ! - cô gục vào con mà khóc, đứa bé cũng oà khóc theo mẹ .

          - Bình tĩnh đi Kim Dung, còn có bạn bè cơ mà - Hoàng Vũ đặt tay lên vai Kim Dung an ủi.

                                                          *

                                                     *   *

          Hoàng Vũ bừng tỉnh, ông đến bên bàn làm việc, nhìn lại một lần nữa bản phác thảo nhóm tượng đài, ông khẽ nói: Còn thiếu, cậu bé ơi! còn thiếu chiếc xe tăng mang số Hai không bảy ... Rồi ông lặng lẽ đi về khu tập thể sinh viên ...

          PLin vội vã đi lên văn phòng khoa. Cậu lo lắng không hiểu sao thầy chủ nhiệm khoa lại xuống tìm cậu. Sáng nay cậu sang trường Mỹ thuật với Hai Bình nên không gặp thầy. Cậu tự hỏi, không biết thầy chủ nhiệm khoa có đúng là người cậu cần tìm không. Nhiệm vụ má Hiền giao cho cậu và Hai Bình tới giờ vẫn chưa thực hiện được. Nhiều khi PLin tự hỏi: Không hiểu tại sao má Hiền lại cứ đeo đuổi mãi điều ấy. Đã có lần má nói với hai đứa rằng đó là ý nguyện của hai người cha đã mất. Hồi mới giải phóng má đã nhắn tin nhiều người ra ngoài Bắc để dò tìm nhưng đều vô vọng, bởi vì cái tin hết sức mơ hồ về những người lính tử trận ấy. Hôm tiễn hai đứa ra ngoài này học, má bảo :

          - Hai con ráng tìm giúp má, không làm được điều đó thì tội cho vong linh cha các con lắm, mà má cũng có tội với cha các con ...

          PLin hiểu lòng má Hiền nhiều. Kể từ khi má đưa PLin xuống thành phố tới giờ đã hơn mười năm rồi, má coi cậu như con ruột của má. Hai Bình và

PLin quý nhau như hai anh em ruột. Cho tới giờ PLin chỉ còn có má Hiền và Hai Bình là những người thân yêu nhất. Ba của cậu chết đã được mười năm rồi, lúc đó PLin đang học lớp bốn. Trưa hôm ấy đi học về, má gọi hai đứa lại bảo chuẩn bị đi về làng ngay. PLin sướng quá reo lên :

          - Về thăm ba con hả má?

          Má lặng yên không nói gì. Khi ba má con về đến nhà thì thấy người trong làng đứng kín trước sân nhà, già làng đang nói với mọi người :

          - PLinh là người Cơ Ho ta, ngày trước nó đi sai đường, cầm cái súng đánh lại đồng bào mình. Bây giờ nó đã biết cầm cây súng đánh lại bọn Phul rô để bảo vệ làng, bảo vệ đồng bào mình. Người Cơ Ho ta thương nó, biết cái bụng nó tốt. Ta phải làm ma cho nó như làm ma cho những người con trai Cơ Ho anh dũng khác ...

          PLin mải suy nghĩ, cậu đến trước phòng thầy chủ nhiệm khoa mà không biết. Nghe tiếng gọi trong phòng, cậu giật mình dừng lại.

          - PLin đấy hả? vào trong này em!

          PLin bước vào phòng, cậu đứng nghiêm nói :

          - Dạ thưa thầy, thầy cho gọi em ạ?

          Hoàng Vũ gật đầu cười, chỉ chiếc ghế đối diện, ông nói :

          - Mời em ngồi! - rót chén nước trà nóng đưa lại cho PLin, ông tiếp - em uống nước đi !

          - Em cảm ơn thầy! - PLin đưa hai tay đỡ chén nước, cậu lễ phép nói.

          Phó Giáo sư Hoàng Vũ với vẻ mặt trầm ngâm, ông nhìn PLin hồi lâu không nói gì. Rồi ông tới bên bàn làm việc nhìn lại một lần nữa bức phác thảo nhóm tượng đài như để tránh sự nhầm lẫn. Đến bên PLin, ông đột ngột hỏi :

          - PLin! làm sao em có bức phác thảo nhóm tượng đài này?

          - Thưa thầy, đây là do em tự nghĩ ra ạ! - PLin thản nhiên đáp .

          - Không đúng cậu bé ạ! Cậu có biết với cái tuổi của cậu thì không bao giờ, không thể nào có được cái ý tưởng ấy. PLin, em nói đi, tại sao em có bức phác thảo này?

          Hoàng Vũ dịu giọng, ông như bị thôi miên, mắt đờ đẫn sau cặp kính cận dày cộp, rồi tiếp - Một căn hầm chữ A như chiếc com pa cắm hai chân xuống đất, chiếc bàn vẽ bị lật nghiêng. Hai người dìu nhau xuống hầm, những tốp người lầm lũi đi, những chiếc quan tài ... Tất cả, tất cả đều là của cậu, của cậu Lê Hoàng ạ!

          PLin tròn mắt hỏi :

          - Thưa thầy, thầy làm sao thế ạ ?

Hoàng Vũ quay lại:

          - Em hãy nói thật đi, vì sao em có được bức phác thảo này? nói đi em. Em lấy bức phác thảo này ở đâu ?

          - Thưa thầy, thầy không tin là của em sao ?

          - Đúng thế, tuổi em đâu phải chịu cảnh ấy, đâu được chứng kiến cảnh ấy, ý tưởng phác thảo này là của một người ...

          - Thưa thầy của ai ạ?- PLin vội vàng hỏi.

          - Một người bạn, một đồng đội của thầy, nhưng anh ấy đã hy sinh trong một trận đánh.

          - Thưa thầy có phải đó là một người lính xe tăng không ạ ?

          - Đúng rồi, đó là một chiến sĩ lái xe tăng. PLin, sao em biết? hiện giờ anh ấy đang ở đâu? - Hoàng Vũ nắm hai vai PLin lắc lắc .

          - Thưa thầy, chuyện dài lắm, em chỉ biết rằng em phải tìm cho được người thân của những người lính giải phóng ấy cho má em. Đã bao năm rồi má em nhờ người tìm kiếm mà không thấy.

          - Em tìm bằng cách này sao ?

          - Vâng thưa thầy, bởi vì không còn thứ gì ngoài bức phác thảo đã ố vàng và bức hình một thiếu nữ.

          - Một tấm ảnh à? em có đem theo không ?

          - Dạ có, nhưng chỉ là bức hình chụp lại, bản gốc má em đang giữ - PLin lấy trong túi áo ra một tấm ảnh đã ép Platic đưa cho Hoàng Vũ. Hoàng Vũ đón lấy, ông giật mình vì đó là ảnh của Kim Dung. Ngày ấy Lê Hoàng đã lén đem tấm ảnh này của Kim Dung vào chiến trường. Đã có lần Lê Hoàng đưa cho ông xem. Tay ông run run, hai mắt ngấn lệ, ông khẽ nói :

          - Lê Hoàng ơi! hơn hai mươi năm qua đi, bây giờ mình đã tìm được cậu rồi ... - Ông ôm lấy PLin, giọng xúc động - cảm ơn em, thầy xin cảm ơn em. Em hãy cho thầy biết hiện nay chú ấy ở đâu? người có bức phác thảo và bức ảnh này ở đâu?  

          - Dạ thưa thầy, ở quê em.

          - Vậy là cả bốn người đã hy sinh rồi sao? PLin, em nói cho thầy rõ hơn được không ?

          - Vâng thưa thầy. Cả bốn người hiện đều ở quê em.

          -  Sự thể ra sao em có biết không?

          -  Thưa thầy, em không biết gì hơn! chỉ có ba em là biết rõ...

          -  Ba em giờ ở đâu?

          -  Ba em bị Phulrô bắn chết từ mười năm trước rồi thầy ạ .. - giọng PLin đượm buồn.

          -  Còn má em?

          -  Má em cũng bị Phulrô giết rồi !

          -  Tội nghiệp em, thầy xin lỗi vì không biết điều đó. PLin, khi nãy em nói má em còn giữ bức ảnh gốc cơ mà?

          -  Dạ, đó là má Hiền, má nuôi của em thầy ạ! Là má ruột của Hai Bình đó thầy. Hai Bình hiện đang học bên trường đại học Mỹ thuật. Chúng em cùng thi đại học ở ngoài này để tìm ra tung tích những người lính giải phóng đó. Vậy là em đã tìm được thầy - PLin khẽ mỉm cười, cậu nhìn Hoàng Vũ không chớp mắt.

          Hoàng Vũ lại ôm lấy PLin, bàn tay ông vỗ vỗ nhẹ lên lưng cậu, ông khẽ nói :

          - Ôi, cảm ơn em, cảm ơn em nhiều lắm! bây giờ ta phải báo cho Hai Bình chứ, báo tin để cậu ấy mừng.

          - Phải báo tin cho má Hiền nữa, má mong tin lắm đó thầy .

          - Phải báo tin cho tất cả biết rằng đã tìm ra dấu vết của Lê Hoàng và những đồng đội năm xưa ...

                                                          *

                                                   *     *

          Kim Dung quàng tay ôm lấy chồng, hỏi nhỏ :

          - Anh làm sao thế? Anh không ngủ được sao ?

          - Kim Dung này! anh đã tìm ra tung tích của Lê Hoàng.

          Kim Dung giật mình, hốt hoảng hỏi :

          - Lê Hoàng còn sống hả anh? Hiện giờ Lê Hoàng ở đâu ?

          - Lê Hoàng đã hy sinh rồi, hiện giờ mộ cậu ấy ở Tây nguyên. Thật là một chuyện hiếm có em ạ!

          Kim Dung ngồi bật dậy, hỏi :

          - Chuyện thế nào anh nói em nghe đi!

          Hoàng Vũ ngồi dậy, ra khỏi giường. Căn phòng bừng sáng dưới ánh đèn. Ông tới bên bàn, mở cặp lấy ra một tấm ảnh, đưa cho vợ, ông hỏi :

          - Em có nhận ra ai đây không ?

          Kim Dung run run đón tấm ảnh từ tay chồng, nhận ra ảnh của mình ngày còn là sinh viên năm thứ hai. Tấm ảnh này Kim Dung đã tặng cho Lê Hoàng ngày Lê hoàng vào Nam. Hai mắt Kim Dung nhoà lệ :

          - Em tặng anh ấy ngày các anh vào Nam. Làm sao anh lại có được? - Kim Dung khẽ nhíu mày suy nghĩ rồi lật mặt sau tấm ảnh, khẽ lắc đầu - không phải tấm ảnh này, em còn nhớ ngày ấy em có ghi mấy dòng chữ vào phía sau.

          Hoàng Vũ ngồi xuống bên vợ, khẽ nói :

          - Đúng, tấm ảnh gốc hiện nay còn ở trong tay một người mà anh chưa hề biết mặt. Đây chỉ là bản chụp lại nên không có bút tích của em. Còn cái này nữa, em hãy lại đây.

          Hoàng Vũ trải cuộn bản vẽ trên bàn, rồi lấy từ trên tủ sách ra một cuốn sổ dày, lật tìm trong cuốn sổ. Lát sau lấy ra một mảnh vỏ bao thuốc lá Trường Sơn. Ông run run đặt mảnh giấy lên trên tờ giấy vẽ, chỉ vào mảnh giấy, ông nói :

          - Đây là bút tích phác thảo nhóm tượng đài của Lê Hoàng, cái đêm đi khắc phục hậu quả trận oanh tạc trường tại khu Gò Héo, Lê Hoàng đã chỉ cho anh thấy cảnh tượng này. Cậu ấy bảo nếu hết chiến tranh còn sống trở về, sẽ đề nghị cho xây dựng tại đỉnh Gò Héo nhóm tượng đài đài này. Những năm tháng ở chiến trường, nỗi ám ảnh của trận bom cứ đeo đuổi bọn anh không bao giờ hết. Bức phác thảo này là của Lê Hoàng đưa cho anh. Anh có hứa nếu còn sống trở về sẽ thực hiện những ý nguyện của cậu ấy.Vậy mà đã hơn hai chục năm rồi ... Hơn hai mươi năm qua, anh nghĩ không còn hy vọng tìm thấy cậu ấy. Vậy mà ... - Hoàng Vũ ngừng lời, Kim Dung vội vàng hỏi :

          - Vậy mà sao hả anh ?

          - Có một cậu học sinh người Cơ Ho đã hai năm nay đi tìm người có liên quan tới bức phác thảo và tấm ảnh của em, với mục đích báo tin về những chiến sĩ giải phóng đã hy sinh. Vừa rồi cậu ấy đã gửi bức phác thảo này dự thi sáng tạo của sinh viên kiến trúc - Hoàng Vũ chỉ vào bản phác thảo của PLin - anh đã hỏi cậu ta về Lê Hoàng, cậu ta chỉ biết rằng có mộ của bốn người lính xe tăng hiện đang nằm ở quê cậu, ngoài ra cậu ấy không biết gì hơn. Người biết rõ mọi chuyện là mẹ nuôi của cậu ấy hiện giờ đang ở Sài Gòn. Anh nhớ rõ trận đánh ấy, Lê Hoàng hy sinh tại vùng núi Tây Nguyên. Ngày mai anh sẽ báo cho gia đình Lê Hoàng biết, sau đó sẽ báo về trung đoàn và báo cho các bạn cùng lớp biết nữa. Rồi ta cũng phải tính đến chuyện đưa các cậu ấy ra nghĩa trang ngoài này.Thôi đi ngủ đi em...

          Kim Dung không sao ngủ được, khẽ lay vai chồng, hỏi :

          - Anh này, có nên cho Thuỳ Linh biết không?

          Hoàng Vũ ôm ghì lấy vợ, giọng tỉnh táo :

          - Chưa cần đâu em ạ! đừng làm ảnh hưởng tới việc học hành của con. Khi nào con thật trưởng thành sẽ nói với con cũng chưa muộn. Thôi ngủ đi em.

          Hoàng Vũ đã cất tiếng ngáy đều đều. Kim Dung nhẹ nhàng ngồi dậy, rón rén bước ra phòng khách. Bức ảnh của Lê Hoàng được hai người phóng to, đặt ở nơi trang trọng trong phòng. Lê Hoàng như đang mỉm cười nhìn Kim Dung. Nước mắt Kim Dung trào ra. Trong tiếng  nấc, Kim Dung thầm gọi :

          - Lê Hoàng ơi! vậy là đã hơn hai chục năm rồi anh có biết không? con gái Thuỳ Linh của chúng ta đã sắp tốt nghiệp đại học rồi. Con ngoan và xinh lắm anh ạ! Anh chắc sẽ vui vì  thấy con và Hoàng Vũ quý rất nhau. Thuỳ Linh hoàn toàn tin rằng Hoàng Vũ là cha đẻ của nó. Ôi may mà ngày ấy có Hoàng Vũ, nếu không thì mẹ con em không biết sẽ ra sao ...

          ... Họ ngồi bên nhau lặng lẽ trong căn nhà tranh. Đứa bé gái lại đã ngủ ngủ ngon lành trong chiếc võng. Hoàng Vũ quàng tay qua vai Kim Dung. Anh ôm ghì lấy người cô, nói trong tiếng thở gấp gáp:

-  Ngày mai ta sẽ báo cáo với trường, rồi đi đăng ký kết hôn...

Người Kim Dung run lên, giọng cô lạc hẳn đi:

          - Như vậy có vội quá không? Hoàng Vũ đã nghĩ kỹ chưa? Kim Dung đâu có còn như xưa nữa.

          - Trước đây Hoàng Vũ đã rất yêu Kim Dung. Kim Dung có nhận thấy điều đó không?

          Kim Dung khẽ gật đầu. Hoàng Vũ tiếp:

          - Lê Hoàng là bạn thân, Hoàng Vũ không thể làm khác được. Ngày ở chiến trường, Lê Hoàng đã nói rằng nếu chẳng may Lê Hoàng chết, Hoàng Vũ còn sống trở về thì Hoàng Vũ chăm nom Kim Dung thay cho Lê Hoàng. Giờ đây Lê Hoàng không còn nữa, không thể để mẹ con Kim Dung phải khổ mãi được. Không thể để bé Thùy Linh không có cha – Hoàng Vũ đưa hai bàn tay đỡ lấy đầu Kim Dung. Nhìn thẳng vào mắt cô, anh nói tiếp – Anh muốn cưới em làm vợ. Bé Thùy Linh sẽ là con gái của anh.

          Kim Dung giàn giụa nước mắt người cô mềm nhũn trong vòng tay của Hoàng Vũ, cô khẽ nói:

          - Hoàng Vũ, mẹ con em cảm ơn anh. Nhưng em không thể làm thế được. Mẹ con em mãi mãi chỉ thuộc về Lê Hoàng...

          - Lê Hoàng cũng muốn anh sẽ cưới em làm vợ, thay cho cậu ấy. Con gái của Lê Hoàng phải có cha. Em không cần phải nói thêm gì nữa, anh đã quyết như vậy rồi. Chúng mình sẽ tổ chức cưới để mọi người biết chồng em là ai và bố của bé Thùy Linh là ai.

          Kim Dung tràn đầy hạnh phúc. Hoàng Vũ hết lòng chiều vợ, thương con. Bé Thùy Linh suốt ngày quấn quýt bên bố. Không ai nghĩ rằng bé Thùy Linh không phải là con đẻ của Hoàng Vũ. Vậy mà đã gần hai mươi năm qua đi. Kim Dung giờ đã là phó giám đốc Công ty Kiến trúc Tây Hà. Thùy Linh nối nghiệp bố, đang học năm thứ năm của trường, hiện giờ đang thực tập tại công ty của mẹ. Hoàng Vũ sau hai lần tu nghiệp ở nước ngoài, ông trở về giảng dậy tại trường với học vị tiến sỹ, hàm vị phó giáo sư, chủ nhiệm khoa. Hạnh phúc gia đình và thành đạt về sự nghiệp làm cho không ít người ao ước. Một điều làm Kim Dung đau khổ là từ ngày lấy nhau, đã nhiều lần mang thai nhưng đều không trọn vẹn. Kim Dung hết lòng chăm sóc và an ủi chồng. Hoàng Vũ cũng đã chạy chữa nhiều nơi, nhưng đều không có kết quả. Kết luận cuối cùng người ta đã thông báo rằng Hoàng Vũ bị nhiễm chất độc mầu da cam, nên không thể có con được. Hoàng Vũ không muốn cho vợ biết điều đó, ông âm thầm chịu đựng một mình và hết lòng chăm lo cho vợ và bé Thùy Linh. Ông đặt tất cả niềm tin vào đứa con gái của người bạn cũ mà đã từ rất lâu ông thấy gắn bó với nó như máu thịt của mình. Kim Dung biết được tin dữ ấy khi gặp mấy người đồng đội cũ của Hoàng Vũ. Họ đã kể cho cô nghe về những gì họ và chồng cô đã gặp trong chiến trường. Cả mấy người bạn trong trận ấy đều không thể có con được, nếu có thì chỉ sinh ra những quái thai mà thôi...

          Hoàng Vũ đã đứng sau lưng Kim Dung từ khi nào. Ông hiểu, hơn hai chục năm qua đi rồi, Kim Dung vẫn không quên được mối tình đầu với Lê Hoàng. Hoàng Vũ luôn trân trọng điều đó, bởi vì ngay chính bản thân ông cũng không quên được hình ảnh người bạn trai ấy.  Cuộc sống gia đình gắn bó với nhau, hiểu nhau và tôn trọng lẫn nhau. Không cần phải để Kim Dung yêu cầu, ngay từ ngày mới cưới, Hoàng Vũ đã chủ động để ảnh thờ và hương khói cho Lê Hoàng. Ông tin rằng nếu vong linh Lê Hoàng có về bên vợ con thì Lê Hoàng sẽ hiểu tình cảm chân thành cuả ông đối với bạn. Hoàng Vũ khẽ đặt tay lên vai vợ, ông nhẹ nhàng nói :

          - Thôi đi nghỉ đi em, ngày mai còn nhiều việc phải làm ...

Cuốn nhật ký để lại

Sáu Thanh ngồi trầm ngâm hút thuốc. Không biết đã là điếu thuốc thứ bao nhiều rồi. Đêm nay cũng như bao đêm đã qua, Sáu Thanh ngồi yên lặng hút thuốc một mình. Ngoài kia là những lớp rào kẽm gai bao bọc, xa hơn nữa rà rừng núi mịt mùng. Màn đêm bao trùm lên căn cứ. Ánh sáng vàng ệch của mấy ngọn đèn điện không xuyên qua được cái màn đen đặc quánh. Tất cả im lặng đến rợn người. Sáu Thanh lặng lẽ bước đến bên cửa sổ, anh căng mắt nhìn về phía trời xa, cố tìm cái quầng sáng từ thành phố hắt lên. Sáu Thanh như thấy từ nơi ấy người vợ thân yêu của anh cũng đang mỏi mắt nhìn về nơi rừng núi âm u này. Vậy mà đã bốn năm qua đi, kể từ ngày ấy, cái ngày mà sau này anh cho rằng đó là ngày ngu xuẩn nhất của cuộc đời mình...

Sài Gòn sôi động. Đường phố tràn ngập những đoàn người biểu tình. Tiếng thét vang đòi tổng thống phải từ chức. Đòi người Mỹ cút hết về nước. Học sinh, sinh viên bãi khóa, xuống đường. Những đêm thức trắng hát cho đồng bào tôi nghe. Những cuộc đàn áp, bắt bớ của cảnh sát đối với học sinh, sinh viên. Sáu Thanh lạ lẫm trước trước những cảnh tượng diễn ra hàng ngày ngay giữa Sài Gòn thủ đô của chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Những điều mà khi còn sống ở Pa Ri, Sáu Thanh không hề nghe nói đến. Ba anh vốn là nhà khoa học có lòng nhiệt tình yêu nước. Ông đã quyết định đưa cả nhà về Sài Gòn, ông nói:

- Tôi bỏ quê hương mà đi gần trọn cuộc đời. Giờ còn lại chút thân tàn này tôi không muốn gửi nơi quê người.

Ông bỏ lại tất cả, từ phòng mạch tư đến chân giáo sư trong trường đại học y khoa ở Pa Ri. Má và anh em Sáu Thanh không thể để ông về một mình. Tất cả đành phải từ bỏ ngôi nhà thân yêu bên bờ sông Sen đầy ắp những kỷ niệm khó quên. Sáu Thanh thẫn thờ dạo bước bên bờ sông. Pa Ri tráng lệ, tháp Ep Phen niềm kiêu hãnh của nước Pháp trông tựa một người khổng lồ đang vươn tới trời cao. Rồi đây tất cả những gì về Pa Ri, về nước Pháp chỉ còn nằm trong ký ức mà thôi.

Về Sài Gòn, ba anh được vào làm trong bệnh viện và giảng dậy trong trường đại học. Cái hàm vị giáo sư của ông được bạn bè đồng nghiệp kính nể. Má vẫn ở nhà nội trợ như khi còn sống ở Pa Ri. Mấy anh chị em Sáu Thanh, người đi làm ở công sở, người tiếp tục đi học. Sáu Thanh miệt mài theo đuổi cái nghề mà anh yêu thích. Chẳng bao lâu nữa, anh sẽ là một kiến trúc sư. Anh ước mơ những công trình anh vẽ ra sẽ được xây dựng ngay tại Sài Gòn hoa lệ ngày. Những cuộc xuống đường biểu tình, bãi khóa của học sinh, sinh viên làm anh không khỏi ngạc nhiên. Anh tự hỏi, tại sao người ta lại thích làm ầm ĩ lên vì những chuyện không đâu. Nghĩa vụ của học sinh, sinh viên là phải học cho tốt để có kiến thức, chứ đâu phải là đi mít tinh biểu tình chống chính phủ. Việc thống nhất đất nước là do chính quyền hai nước chứ đâu phải do mấy đám học trò còn ăn bám gia đình này. Sáu Thanh mang điều thắc mắc ấy hỏi ba anh. Ba anh không phản đối, cũng chẳng đồng tình, ông chỉ im lặng. Gần đây Sáu Thanh thấy ba anh khác quá, cái vẻ hào hứng được trở về phục vụ đất nước đã biến đi đâu mất. Những ngày mới về, có đôi lần ông tranh luận với các anh chị lớn tuổi của Sáu Thanh về chính kiến của ông đối với chế độ Việt Nam Cộng hòa, về chiến tranh hai miền Nam Bắc. Nhưng tới giờ thì ông hoàn toàn im lặng. Sáu Thanh thấy trong mắt cha mình có điều gì như ân hận, như hối tiếc. Mái tóc ba anh ngày thêm bạc trắng.

Tết Mậu Thân (1968). Sài Gòn nổi đậy, cả miền Nam nổi dậy. Cuộc tranh luận của những thành viên trong gia đình Sáu Thanh bấy lâu đã tạm thời lắng xuống, giờ lại bùng lên. Thực ra chưa có quan điểm của ai thắng ai cả, vì gia đình Sáu Thanh không có ai tham gia bất kỹ đảng phái nào. Mọi người trong nhà đều tỏ ra chán ghét chiến tranh. Chiến tranh dù do bất kỹ ai gây ra, cũng đều đi liền với sự chết chóc, bắt bớ, tù đầy. Con người tàn sát lẫn nhau để tranh dành quyền lực mà thôi. Tiếng súng Mậu Thân ngưng rồi, nhưng khí thế của những cuộc bãi khóa, xuống đường biểu tình vẫn còn. Thỉnh thoảng những chiếc xe cảnh sát rú còi inh ỏi, cảnh sát ập vào trường bắt đi những sinh viên bị tình nghi tham gia nổi dậy. Sinh viên tràn xuống sân trường chặn xe cảnh sát. Dùi cui, báng súng đập xuống đầu những người biểu tình liên tiếp. Lựu đạn cay ném tới tấp vào đám đông, máu lại chảy đỏ sân trường.

Sáu Thanh đứng lên tranh luận cùng các bạn trong lớp. Anh nói lên cái điều mà anh cho rằng các bạn anh đã đi quá giới hạn của tuổi học trò:

- Tôi nghĩ tương lai, vận mệnh đất nước này là của lớp trẻ chúng ta. Chúng ta phải có trách nhiệm học cho tốt để phục vụ đất nước. Việc đánh nhau, chém giết lẫn nhau đâu phải của chúng ta. Hãy để việc ấy cho mấy ông chính phủ và đám binh lính của họ làm. Tôi nghĩ chính thể quốc gia nào cũng vậy cả. Tài năng của chúng ta là để phục vụ đất nước này, dân tộc này. chứ đâu phải đi làm mấy cái chuyện đó...

Sáu Thanh định nói tiếp thì nhiều tiếng cười rộ lên, có người nói:

            Ấu trĩ quá ta, công tử bột quá ta.

            Vậy thì hãy ráng mà ngồi học nghe, cha nội!

            Coi chừng tâm lý chiến đó!

Từ đấy mọi người tỏ ra nghi ngờ và xa lánh anh. Sáu Thanh thấy mình lạc lõng và cô đơn quá. Anh lầm lũi một mình, muốn bỏ qua lời kích bác của bạn bè. Nhiều lúc anh cô đơn như cánh chim lẻ đàn, run rẩy không biết bay về đâu. Nhiều khi anh muốn tìm hiểu xem những người phía bên kia ra sao. Tại sao họ cũng thích chém giết đến vậy?  Trong anh sự  thèm khát được học hành trộn lẫn cái chán chường vì bị mọi người xa lánh. Sáu Thanh đi đến phòng đăng ký vào lính. Chắc rằng chỉ ít ngày nữa anh sẽ không còn được đi trên con đường này. Không biết rồi cuộc đời sẽ trôi dạt về đâu. Anh thấy đầu mình rỗng tuếch. Anh cũng không hiểu vì sao mình lại quyết định như vậy.

Đang lững thững đi, Sáu Thanh nghe có tiếng người gọi. Anh quay lại, thì ra đó là út Hiền. Út Hiền và anh quen nhau khi gia đình anh mới từ bên Pháp về Sài Gòn được ít ngày... 

Chiều ấy Sáu Thanh đang mải mê bên giá vẽ. Anh đắm chìm trước cảnh hoàng hôn trên sông Sài Gòn. Không gian như lặng đi trước thời khắc giao thoa của ngày và đêm. Mặt nước đặc sánh như muốn tung lên hằng hà sa số những gợn sóng lấp lánh ánh hồng. Tất cả sắc mầu gợi nhớ lại trong anh những chiều hoàng hôn tím trên sông Sen. Vì mải vẽ, Sáu Thanh không biết có cô gái đang đứng ngay sau lưng.

 Cô gái say sưa ngắm bức vẽ của anh. Cô ngạc nhiên trước cái nhìn của anh trước ánh nắng chiều trên sông Sài Gòn. Cô nghĩ hẳn anh không phải là dân gốc Sài Gòn này. Chỉ có như vậy thì anh mới có được cái nhìn bất chợt ấy để rồi cảm nhận và thể hiện trên mỗi nét cọ. Sáu Thanh lùi lại để ngắm bức tranh thì đụng phải người đứng phía sau. Anh quay lại xin lỗi thì nhận ra đó là một cô gái xinh đẹp và kháu khỉnh. Cô gái đỏ mặt vì bị bắt quả tang đang nhìn trộm tranh. Sáu Thanh nói:

            Xin lỗi chị, tôi mải quá!

          Cô gái ngỡ ngàng khi nghe giọng nói của anh. Anh nói giọng Sài Gòn chưa chuẩn, có nhiều âm sắc lơ lớ của người nước ngoài tập nói tiếng Việt :

          - Xin lỗi anh, người đáng phải xin lỗi là em. Anh vẽ đẹp quá, em mải xem nên...

- Cảm ơn! chị quá khen. Tôi vẽ cũng thường thôi.

          Mặt trời hắt những tia nắng cuối cùng lên bầu trời. Thành phố lên đèn. Họ đi bên nhau lặng lẽ. Sau lưng mỗi người khoác một chiếc giá vẽ. Nhìn họ, người ta sẽ nghĩ rằng đó là đôi bạn đồng môn, cùng đi vẽ với nhau. Cô gái giới thiệu mình với Sáu Thanh. Cô là út Hiền, sinh viên văn khoa. Cô đang theo học thêm lớp mỹ thuật. Chiều nay cô cũng đi vẽ, đang đi lang thang thì thấy anh đang mê mải vẽ. Cô dừng lại xem anh vẽ đến quên cả việc của mình...

          Út Hiền đến bên Sáu Thanh. Cô thấy anh cứ nghệt ra như người mất hồn.

          - Anh đi đâu? mấy hồi này em kiếm anh hoài mà không thấy. Hỏi bên đó họ nói không biết.

          Sáu Thanh không trả lời, anh nhìn út Hiền bằng đôi mắt buồn rầu. Út Hiền lo lắng hỏi:

            Có chuyện gì vậy anh?

            Chuyện buồn mà út – Sáu Thanh khẽ nén tiếng thở dài.

Hai người đi về phía bờ sông. Họ ngồi bên nhau. Sáu Thanh kể hết những chuyện đã sảy ra trong những ngày qua cho út Hiền nghe. Anh cũng không ngại ngần nói ra những suy nghĩ của mình về cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc. Anh mong cô hiểu và thông cảm cho anh, bởi vì anh từ bên kia trở về, anh đâu có hiểu gì về tình hình chính trị trong nước. Anh ngờ nghệch về thời cuộc. Anh chỉ lờ mờ suy đoán rằng những người cầm quyền ở hai phía muốn thôn tính nhau để mở mang bờ cõi mà thôi. Tất nhiên trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn ấy hẳn phải có người thắng, kẻ thua. Dù cho thắng hay thua thì những người chịu thua thiệt nhất cũng vẫn chỉ là con dân đất Việt này. Ngày còn ở Pa Ri, anh nghe má kể về quê hương với những truyền thuyết đầy thơ mộng và hào hùng. Cái tên Việt Nam trong anh gắn liền với huyền thoại Âu Cơ và Lạc Long Quân, với Lê Lợi, với Quang Trung Nguyễn Huệ. Về nước rồi, anh mới thấy biết bao chuyện phức tạp. Út Hiền chăm chú nghe Sáu Thanh nói. Cô hoàn toàn cảm thông với anh. Bởi vì bản thân cô cũng đã từng như anh, cũng đã một thời lạc lõng, cô đơn.

Út Hiền sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn. Cô được ba má cưng chiều, chỉ biết sống trong nhung lụa, đâu biết đến nỗi khó khăn cực nhọc của người lao động. Sách vở và nhà trường dậy cô về chính nghĩa quốc gia, về đồng minh Hoa Kỳ và cả về sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Thực tình út Hiền không quan tâm đến những chuyện đại sự đó. Cho tới khi vào đại học cô mới lờ mờ hiểu, sau những lần nghe diễn thuyết, những đêm xuống đường hát cho đồng bào nghe. Út Hiền nhìn cuộc sống dè dặt hơn. Cô xét đoán từng sự việc để đưa ra những lập luận chuẩn mực hơn.

Cuộc chiến ngày càng lớn. Đài, báo liên tiếp đưa tin về những cuộc hành quân tiễu trừ Việt Cộng. Những cuộc oanh kích của không lực Hoa Kỳ xuống Bắc Việt. Cô không rõ Việt Cộng thất bại ra sao, chỉ thấy những cuộc bắt lính diễn ra hàng ngày. Thương phế binh từ mặt trận trở về Sài Gòn ngày thêm nhiều. Biết bao bạn bè của cô, nếu không có chiến tranh thì giờ này họ cũng đã được ngồi học trong các trường đại học. Nhiều khi cô tự hỏi, trên mảnh đất nhỏ xíu hình chữ S này,ấti sao không khi nào ngớt chiến tranh. Một ngày có biết bao người phải chết, phải tàn phế vì bom đạn. Vì sao những thanh niên trẻ ở cả hai phía lại phải cầm súng bắn vào nhau. Đầu óc cô rối tinh lên. Đêm đêm nằm nghe lén đài phát thanh Bắc Việt. Ngoài đó hừng hực khí thế chiến đấu. Tin phi cơ không lực Hoa Kỳ bị bắn rơi. Tin học sinh, sinh viên tòng quân đánh giặc. Út Hiền thấy tim mình như thắt lại. Lại những thanh niên, sinh viên phải từ rã mái trường, từ biệt người thân để đi vào nơi lửa đạn. Cô xót xa cho số phận những con người, nếu không có chiến tranh thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao. Cô tự hỏi tại sao? bao lần cô hỏi tại sao mà không tìm ra câu trả lời.

Tết Mậu Thân, út Hiền gặp những người phía bên kia. Việt cộng cũng giống như cô, như những người thân của cô. Cô bàng hoàng vì họ là những người cô vẫn gặp hàng ngày. Ngay tại ngã năm trước cửa nhà, út Hiền đã thấy cảnh một tổ biệt động đã đánh bại biết bao đợt tấn công của quân lính quốc gia. Người ta phải dùng xe tăng, xe bọc thép từ các ngả phố đánh vào. Ngã năm bị cầy xới tan hoang. Mấy người lính quốc gia xả súng bắn nát thi thể một nữ biệt động. Út Hiền òa khóc, tim cô đau thắt. Cô đã kể cho Sáu Thanh nghe những gì mà cô thấy. Cô đồng ý với anh, trong cuộc chiến này người dân Việt phải chịu mất mát nhiều hơn tất cả.

Nhìn thẳng vào mắt út Hiền, Sáu Thanh nói:

            Anh phải đi, phải đi tìm ra sự thật út à!

            Anh đi đâu? tìm về phía bên kia?

-   Không, anh đi lính. Chỉ có vào lính mới hiểu được mấy ông quốc gia nói đúng sai ra sao.

          - Vậy có nên không? nguy hiểm lắm đó anh! Hay là tìm đường sang phía bên kia.

          - Anh nghĩ rồi, sang bên kia ai họ tin mình. Anh lại là người đã từng sinh ra và lớn lên ở Pháp. Nước Pháp đã từng xâm lược Việt Nam và bị Cộng sản đánh bại ở Điện Biên Phủ. Mối thù của Việt cộng với nước Pháp họ đâu đã quên. Anh phải đi thôi út à! ít ngày nữa anh đi rồi.

          Út Hiền ôm ghì lấy Sáu Thanh, giọng nghẹn ngào:

          -   Đừng, anh đừng đi. Anh nỡ bỏ em một mình sao? em yêu anh. Em không để anh đi đâu hết.

          -   Anh sẽ về mà em, không đi thì biết sao bây giờ!

          Sáu Thanh cúi xuống. Hai người hôn nhau nụ hôn đầu.

          Tiếng rít rợn người của những chiếc Ep một linh năm cắt ngang dòng suy nghĩ của Sáu Thanh. Đến bên giường, anh lấy từ trong ba lô ra một cuốn sổ và cây bút. Anh tiếp tục ghi những dòng nhật ký.

*

*    *

          Tiếng xe nhà binh rú lên ghê người. Út Hiền trằn trọc không ngủ. Không biết giờ này Sáu Thanh ở đâu? Nghe nói Tây nguyên đánh lớn lắm, không thấy tin tức gì của anh. Trời ơi nếu anh mệnh hệ gì thì mẹ con cô sẽ sống ra sao. Không biết anh đã nhận được thư của cô chưa. Cô đã báo tin cho anh biết rằng cô đã có thai. Hai người cưới nhau được hơn một năm mà thời gian sống bên nhau chưa đầy hai chục ngày. Tám tháng trước, anh tranh thủ về thăm cô. Ngủ nhà một đêm, sáng sau lại đi ngay. Cái đêm ấy anh đã gửi lại giọt máu của anh trong cô. Chẳng bao lâu nữa dứa con của hai người sẽ chào đời. Út Hiền với tay bật công tắc đèn. Căn phòng hạnh phúc của vợ chồng cô không lớn, chỉ vừa kê một chiếc giường đôi, một chiếc bàn trang điểm và một giá sách ngăn căn phòng ra làm hai, nửa ngoài dùng làm phòng khách. Bên nhà Sáu Thanh, các anh chị đã xây dựng gia đình nhưng vẫn ở chung, nên cũng khá chật. Sáu Thanh đi biền biệt suốt nên hai bên gia đình đồng ý để út Hiền ở bên ngoại. Chồng đi vắng, ở nhà với ba má cô cảm thấy đỡ buồn hơn.

          Út Hiền trở dậy, tới bên giá sách. Cô rút cuốn nhật ký của Sáu Thanh. Đây là cuốn nhật ký thứ sáu của anh. Cô thường có thói quen đọc nhật ký của chồng vào tối thứ bấy hàng tuần. Công việc thường ngày của giáo viên không mấy bận rộn, nhưng cô muốn được sống cùng anh vào đêm thứ bẩy như ngày hai người mới yêu nhau. Cô đến bên bàn, lật trang nhật ký đang đọc dở ra đọc.

            C... ngày 24 tháng 12 năm 1973.

          Lại thêm một bằng chứng nữa về VC. Đó là một bầy trẻ nhỏ và mấy ông bà già người Thượng. Sau mấy ngày lùng sục của bọn TB, những VC này bị đưa về để khai thác...

          - Ngày 25 tháng 12 năm 1973 hành quân lên BMT. Bị phục kích. Hai thằng M 48 bị dính mìn. Đụng độ với T 54. Cháy thêm một thằng M48 nữa. Họ gần quá, lậy chúa, may mà thoát chết. Chúa ơi đêm Noel kinh hoàng...

          -  15 tháng 1 năm 1974.

          Vậy là sắp đến tết rồi, lệnh cấm trại. Đêm nay sao mà im lặng thế. Trời không một vì sao. Nhìn mãi về phía Sài Gòn mà không thấy quầng sáng thân quen. Giờ nay em đang làm gì. Cái gì sẽ đến với anh trong những ngày tới. Chúa ơi! xin người hãy cho con sự bằng an.

            Ngày 17 tháng 1 năm 1974.

Ơn chúa đã che chở cho con. Họ đánh giữ quá trời. Sở chỉ huy tan tành. Tất cả chìm trong lửa. Mạnh ai nấy chạy. Toàn tiểu đoàn không kịp nổ máy. Sáng qua mình được lệnh vào kiểm tra chiếc T 54 bị bắn cháy, chuẩn bị bốc về Sài Gòn để quảng cáo chiến công. Họ rút cả rồi. Lũ F105 đang oanh tạc khu rừng phía ngoài. Họ có 4 người, đạn chống tăng thiêu cháy. Không hiểu sao một người còn dính mảng áo ngực. Chúa ơi! trong túi áo anh ta có bức hình một cô gái được gói trong một tờ giấy viết. Tụi mình làm dấu thánh cầu nguyện cho họ.

Tư Hòa hỏi :

            Làm sao giờ anh Sáu?

            Chôn họ thôi! họ chết rồi. Đừng để mấy ông hành họ thêm nữa.

          -   Đưa họ sang mé đồi bên kia đi anh Sáu, để gần đây đạn pháo lại cầy tung lên mất. – PLinh nói.

          Mấy anh em cuốn họ bằng những mảnh dù rồi vác sang sườn đồi phía bắc, đào vội những cái hố. Lấp đất vội vàng. Tư Hòa lầm rầm khấn:

          - Lậy mấy ông. Mấy ông phù hộ cho anh em tôi thoát khỏi cuộc chiến này.

          11 giờ 30, trực thăng tới. Mấy thằng sợ không dám hạ cánh, chỉ thòng cáp xuống. Bọn mình móc cáp xong. Trực thăng chuồn thẳng về hướng Sài Gòn.

          Mấy cha hỏi mình về xác những VC trong chiếc T 54. Mình bảo:

          - Trúng đạn chống tăng Hoa Kỳ, cháy thui. Động tới vỡ vụn thành bột. hót đổ cả ra ngoài. Sợ đưa về Sài Gòn, dân báo chí thấy lại la lối ầm lên. Mấy ông tới coi kẻo gió bay hết.

          Mấy anh em đã bảo nhau cùng nói như vây, mấy cha chẳng hỏi thêm gì...

          Út Hiền trút tiếng thở dài. Cả một trang tiếp của cuốn nhật ký, Sáu Thanh vẽ sơ đồ khu vực diễn ra trận đánh. Trên sườn đồi ở ngoài căn cứ, bên cạnh một gốc cây có vẽ bốn ngôi sao. Út Hiền hiểu đó là mộ của bốn người lính giải phóng trong chiếc xe tăng được chôn ở đó. Dưới trang viết, Sáu Thanh ghi:

          May ra sau này họ được tìm thấy và đưa về MB.

          Đêm 20 tháng 2.

          Mấy ngày này đi suốt, đi bộ mỏi rã rời, may mà không gặp VC. Vẫn chưa nhận xe mới. Chắc bọn M muốn cảnh cáo bọn mìnhvì cả tiểu đoàn M 48 chẳng còn lấy một chiếc.

          Giờ mới có thời gian nhìn kỹ bức hình. Trẻ quá, cũng chỉ cỡ tuổi út Hiền. Tội nghiệp, vậy là cô không bao giờ gặp lại người thân nữa. Không biết cô là vợ hay là người yêu của anh ấy.  Chúa ơi! nếu mình cũng bị trúng đạn như mấy người lính VC kia thì út Hiền sẽ ra sao? sẽ giống như cô gái này thôi. Chúa hãy che chở cho con...

          Thật bất ngờ, mảnh giấy học trò bọc hình cô gái lại là một phác thảo nhóm tượng đài...

          Ôi chiến tranh. Hỡi anh lính VC mà tôi không quen biết, Thần chiến tranh đã gọi anh về. Người thân của anh sẽ không bao giờ gặp lại anh. VC là những con người như anh sao? Nếu không có chiến tranh thì các anh và cả tôi nữa sẽ có ích cho đời biết bao.

          Khi nào mình mới trút bỏ bộ đồ này? Sau chiến tranh, nếu còn sống, mình sẽ đi tìm và trao lại cho người thân của anh ấy.

          Út Hiền run run lật mở tờ giấy gói bức hình. Cô đọc những dòng chữ nhỏ phía sau bức hình : Đi đâu nhớ cho em đi với Hoàng ơi! Út Hiền bật khóc nức nở. Cô xót xa cho người con gái đất Bắc. Rồi cô hốt hoảng nghĩ đến Sáu Thanh. Cô vội vàng đưa tay lên làm dấu thánh.

          Viếng mộ

          Chiếc xe khách ì ạch bò lên đèo. Chiến tranh qua đi đã năm năm rồi. Rừng đã dần xanh trở lại. Những hố bom loang lổ đang được thay bằng mầu xanh của cỏ. Dấu tích chiến tranh nơi đây chỉ còn thấy trên mặt những con đường. Những hố đạn được lấp vội bằng đất, bằng đá vụn. Mấy mùa mưa qua đi, những cái hố bị xe cầy xới lại lở lói thêm ra. Chiếc xe dừng lại giữa đỉnh đèo. Một người đàn ông tóc quăn, da nâu đen đeo trên lưng chiếc ba lô con cóc, tay xách chiếc làn nhựa, bước xuống xe. Anh đặt chiếc làn xuống đất, rồi quay lại giơ hai tay đón một đứa bé chừng bốn năm tuổi đang định nhẩy từ trên bậc xe xuống đất. Một thiếu phụ bước xuống xe rồi chạy vội ra vệ dường ngồi sụp xuống hai tay ôm lấy bụng. Tiếng người lơ xe vang lên : “ đi thôi, đi  thôi!”. Chiếc xe rồ máy lao đi, để lại vệt khói đen xì, khét lẹt mùi dầu. Người đàn ông đến bên thiếu phụ hỏi:

            Say lắm sao chị Sáu. Gắng chút nữa là tới nhà thôi!

          Thiếu phụ gắng gượng đứng lên. Họ rẽ xuống con đường mòn. Đứa bé thích thú nhẩy chân sao trên đường. Đây là lần đầu nó được thấy cảnh núi rừng. Ở Sài Gòn, ngoại hay đưa nó đi Thảo Cầm Viên, nhưng ở đấy không có nhiều cây như ở đây. Người đàn ông nhắc nó:

            Coi chừng té đó Hai Bình!

Thiếu phụ khẽ hỏi người đàn ông:

            Từ nhà tới nơi anh Sáu nằm có xa không anh?

            Đi chừng ba tiếng là tới thôi chị Sáu à!

            Vậy còn nơi mấy người lính giải phóng?

            Cũng gần nơi anh Sáu đó. Như vậy có được không chị Sáu?

            Dạ được!

          -   Mấy hồi còn sống, anh Sáu cứ nhắc tụi tôi hoài về mấy người lính giải phóng đó. Ảnh ân hận như chính mình là người bắn vào chiếc xe đó.

          - Ảnh vậy đó. Trong nhật ký ảnh cũng nhắc hoài tới chuyện đó. Ảnh viết nếu còn sống sau chiến tranh, sẽ tìm gặp người thân của mấy ổng để đưa về Bắc cho đỡ tội nghiệp. Tây Nguyên bị thất thủ, em cứ lo hoài. Tư Hòa về Sài Gòn chỉ kịp báo tin ảnh bị tử trận. Em chưa kịp hỏi ảnh nằm đâu thì Tư Hòa đã đi rồi. May mà có anh đó, anh PLinh à!

          - Ngày đó bọn tôi chạy dài. Mấy thằng chỉ huy ra lệnh quay lại tái chiếm. Anh Sáu phản đối liền bị bọn chúng bắn luôn. Tôi và Tư Hòa điên lên bắn chết mấy thằng rồi đưa anh Sáu đi. Bọn tôi khóc muốn hết nước mắt. Mấy hồi còn sống, anh Sáu có nói: “ Nếu chẳng may mình tử trận thì anh em ráng đưa về chôn gần mấy anh giải phóng cho có bầu có bạn, nhưng nhớ để mình quay nhìn về Sài Gòn, vì nơi đó còn có gia đình, vợ con mình”. Tụi tôi đưa anh Sáu về đó và làm đúng theo lời ảnh dặn. Sau đó tư Hòa về Sài Gòn, còn tôi vào rừng sống vất vưởng. Cho tới khi Sài Gòn giải phóng, tôi ra trình diện, đi học tập cải tạo ba năm. Trở về buôn mới biết tin vợ tôi bị Phun rô bắn chết trên nương, để lại cho tôi thằng con cũng tầm thằng nhỏ này đó.

          - Cháu tên gì hả anh?

          - PLin, thằng nhỏ tên là PLin.

          - Má ơi! con đau chân quá.

          - Đau chân rồi hả? để chú cõng con nào – PLinh đến bên thằng bé. Anh đeo chiếc ba lô về phía trước rồi ngồi xuống để thằng nhỏ bám lên lưng.

          - Anh đưa làn đây em xách đỡ.

          - Không cần, chị Sáu đi không đã mệt rồi, còn mang vác sao nổi.

          PLinh đứng dậy, một tay đỡ mông đứa bé, một tay xách làn. Anh chạy nhong nhong làm thằng bé cười như nắc nẻ.

          Họ dừng lại nghỉ bên một dòng suối. Nước suối trong vắt, róc rách chảy quanh những tảng đá. Út Hiền cúi xuống lấy hai tay vốc nước vã lên mặt. Dòng nước mát lạnh làm cô tỉnh cả người. Trên kia, PLinh và con trai cô đang đùa với nhau, tiếng cười của hai chú cháu nghe giòn tan.

          -  Đã đi được chưa anh PLinh, còn xa lắm không? – út Hiền hỏi với lên.

-  Không xa nữa đâu, ở nơi có ngọn khói trắng kia thôi. Nghỉ cho đỡ mỏi chân rồi hãy đi – Tiếng PLinh lẫn trong tiếng nước reo.

Út Hiền nhìn lên lưng núi, thấy thấp thoáng trong lùm cây một mái nhà tranh. Một làn khói trắng bay lên rồi tản dài ra theo chiều gió.

Ba người bước vào sân.  Mấy con chó thấy chủ về chạy ra mừng rối rít. PLinh cất tiếng gọi:

            PLin à! có nhà không?

-   Cha, cha về rồi à?

          Một đứa bé mặc độc chiếc quần đùi, mái tóc vàng hoe quăn tít, hai mắt to tròn, da đen bóng từ trong nhà chạy ra. Vừa chạy cậu vừa hét lên sung sướng. Nó chợt đứng sững lại vì thấy người lạ, mắt sáng lên khi nghe cha nói.

          - Đây là cô Út Hiền, vợ bác Sáu Thanh. Còn đây là Hai Bình, con trai bác Sáu Thanh đó. Hai Bình này, đây là PLin con trai chú!

          Hai Bình tiến đến bên PLin, chìa tay ra, nó nói:

            Chào PLin.

          PLin chẳng nói gì, lẳng lặng vào bếp, lấy ra một củ khoai nướng. Nó bẻ đôi củ khoai, đưa cho Hai Bình một nửa rồi nói:

            Ăn đi, đói dữ rồi hè?

          -  Hai Bình cầm lấy nửa củ khoai, bóc vỏ ăn ngon lành. Hai đứa kéo nhau ra ngoài. Út Hiền nhìn theo hai đứa trẻ, nói:

          -   Chóng quen nhau quá hà.

          -   Chúng nó hiểu nhau rồi đó – PLinh gật đầu nói.

PLinh dậy rất sớm. Anh bắc nồi nấu xôi, rồi bắt hai con gà trống làm thịt. Đây không phải là lần đầu tiên PLinh làm cỗ cúng mộ Sáu Thanh và mộ mấy người lính giải phóng. Từ khi đi cải tạo về, PLinh đã nghĩ ngay đến việc làm nhà mồ cho Sáu Thanh và mấy người lính giải phóng. PLinh nghĩ chắc rằng bây giờ các anh ấy đã là bạn bè của nhau rồi. Người chết đi rồi thì mọi hằn thù chắc sẽ không còn nữa. Ngày còn sống, Sáu Thanh đã nhiều lần nói với anh về cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc. Nói về sự can thiệp của quân đội Mỹ vào công việc nội bộ của người dân Việt Nam. Có lần Sáu Thanh và anh đã bàn nhau chạy trốn sang bên kia, nhưng nghĩ đến sự trả thù của quốc gia sẽ đến với vợ con, gia đình nên lại thôi. Sáu Thanh luôn cầu nguyện sao cho cuộc chiến sớm kết thúc, anh thường nói với PLinh và mấy anh em thân thiết : “ Mình cố gắng đừng gây thêm tội ác với đồng bào mình, làm được việc gì có ích thì hãy cố gắng làm...”. Khi nào PLinh cũng thấy Sáu Thanh buồn rầu như người có lỗi. Sau lần mấy anh em chôn được xác những người lính giải phóng trong chiếc xe tăng, PLinh mới thấy Sáu Thanh đỡ buồn hơn. PLinh hiểu lòng Sáu Thanh đã hướng về phía bên kia.

PLinh cặm cụi một mình lấy gỗ dựng nhà mồ, làm lễ bỏ mả cho các anh. PLinh cẩn thận đẽo gọt những pho tượng nhà mồ để các anh có thêm nhiều bạn bè.

Đêm qua lạ nhà khó ngủ, Út Hiền nghĩ miên man biết bao chuyện. Năm năm qua đi rồi, cô khóc thương chồng đến cạn nước mắt. Giá như ngày ấy cô kiên quyết ngăn anh không cho vào lính thì bây giờ đâu bị mất anh. Sáng mai, cô và con trai sẽ lên viếng mộ anh. Cô gọi khẽ: “ Sáu Thanh ơi! mẹ con em đến thăm anh đây. Cảm ơn anh đã có người bạn tốt như anh PLinh, nếu không có anh ấy thì em làm sao mà tìm được anh”. Út Hiền mơ thấy Sáu Thanh đang say sưa vẽ bên bờ sông Sài Gòn. Hai mẹ con cô đứng lặng yên nhìn anh vẽ. Sông Sài Gòn lấp lánh ánh hoàng hôn. Sáu Thanh dừng bút vẽ. Anh quay lại ôm lấy hai mẹ con cô mà hôn tới tấp. Thế rồi ánh chớp lóe lên cùng với một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Sáu Thanh gục ngã, máu từ ngực anh nhuộm đỏ cả áo hai mẹ con cô. Cặp mắt dữ tợn của thằng chỉ huy vằn lên những tia máu đỏ cứ nhìn thẳng vào mẹ con cô. Bức vẽ hoàng hôn trên sông Sài Gòn của anh nhuộm đầy máu. Út Hiền choàng tỉnh, ngoài kia có ánh lửa bập bùng. Cô ngồi dậy nhìn ra thấy PLinh đang lúi húi bên bếp lửa. Cô lặng lẽ bước đến bên anh:

-   Anh PLinh dậy lâu chưa? em đoảng quá, để anh phải lo mọi việc.

          -   Sao chị Sáu không ngủ nữa, đi đường xa còn mệt mà.Tôi chỉ làm một loáng là xong thôi. Nhà không còn người phụ nữ, tôi làm mãi thành quen rồi.

          -   Sao anh không về ở hẳn trong buôn?

          - Ngày còn sống chui lủi trong rừng, chờ đợi mãi mới gặp được vợ tôi tôi đi làm nương.  Cô ấy bảo làm cái lán để ở. Hàng ngày cô ấy tiếp tế cho. Khi tôi đi cải tạo, mẹ con cô ấy vẫn ở đây chơ tôi trở về. Thế rồi cô ấy bị Phun rô bắn chết ngay trên nương. Tôi không muốn xa nơi đây, hai cha con dựng nhà này ở từ đó tới giờ.

          - Anh cứ định sống thế này mãi sao? Còn tương lai của cháu PLin nữa chứ. Cháu cũng đến tuổi đi học rồi còn gì?

          - Gần năm nữa cháu sẽ đi học, đến lúc ấy tôi sẽ gửi cháu về buôn. Đời tôi không biết cái chữ thấy khổ lắm. Mấy năm sống cùng anh Sáu. Anh Sáu dậy chữ, nói cái đúng cái sai, tôi tỉnh ra nhiều lắm.

          - Hay anh để em đưa cháu PLin về Sài Gòn học. Như thế anh đỡ vất vả mà cháu đỡ bị thiệt thòi.

          - Được thế thì tốt quá, nhưng cháu còn dại lắm, sợ chị Sáu vất vả thêm nhiều. Mà rồi chị Sáu cũng phải nghĩ đến cuộc sống lâu dài nữa chứ, không lẽ cứ sống...

          - Em nghĩ kỹ rồi. Em sẽ sống một mình để nuôi cháu nên người. Ngoài anh Sáu ra, em không còn một ai khác cả. Anh yên tâm đi, em sẽ coi PLin như con trai em. Có PLin về cùng sống, Hai Bình chắc sẽ thích lắm.

          - Thôi được rồi, chuyện đó sẽ bàn sau. Giờ cô út vào gọi các cháu dậy, chuẩn bị xong là ta đi.

          Hai đứa bé nắm tay nhau vừa chạy vừa cười vẻ thích thú. Đêm qua hai đứa nằm bên Út Hiền, cứ rúc rích nói chuyện rồi ôm nhau ngủ lúc nào không biết. Hai Bình trắng trẻo, áo quần lành lặn đẹp đẽ. Còn PLin da đen bóng, mặc độc chiếc quần đùi. Hai đứa nói với nhau bằng lời và cả bằng động tác tay chân, vì vốn liếng tiếng Kinh của PLin được bố dậy cho chẳng mấy mà cạn. Út Hiền xách chiếc làn nhựa đựng những thứ cô mang từ Sài Gòn lên. Còn PLinh gùi một gùi đầy những xôi, gà, gạo, rượu...

          Út Hiền nhào tới ôm lấy mộ chồng, cô vật vã khóc. PLinh đứng lặng người, nước mắt lăn dài trên má. Hai Bình thấy mẹ khóc liền nhà tới lay gọi:

            Má ơi! sao má lại khóc. Mộ ai đây hả má?

            Mộ ba con đó, con lậy ba con đi!

            Sao ba lại ở đây hả má? bao giờ ba về?

          -   Trời ơi con tôi. – Út Hiền lại òa khóc – Anh Sáu ơi! con trai của anh đây. Nó còn bé quá chưa biết gì đâu anh ơi! Anh ráng phù hộ độ chì cho con nên người...

          PLin kéo tay Hai Bình. Nó đưa Hai Bình đi xem những pho tượng nhà mồ mà ba nó đã làm. Hai Bình thích thú ngắm những pho tượng gỗ có hình thù kỳ lạ đặt quanh khu mộ ba nó. Gió rừng xào xạc thổi. Mùi hương trầm lan tỏa. PLinh chắp tay kính cẩn vái ba vái trước mộ Sáu Thanh, lầm rầm nói:

          - Anh Sáu ơi! Hôm nay tôi đã đưa được vợ con anh lên thăm anh đây. Anh hiểu cho, vì hoàn cảnh, tôi không thể làm sớm hơn được. Những điều anh dặn tôi cũng đã làm, nhưng tôi chưa thể tìm được người thân của mấy anh giải phóng...

Ngọn lửa bùng lên. Những xấp giấy tiền, vàng mã bắt lửa bốc cháy ngùn ngụt. Gió thổi mạnh đưa những tàn lửa bay lên cao. PLinh chắp tay vái dài rồi nói nhỏ:

- Anh Sáu! bây giờ tôi đưa chị Sáu và các cháu sang thắp nén nhang cho các ảnh.

Út Hiền chắp tay vái mộ chồng, cô nói trong tiếng nấc:

- Anh ơi! em sẽ nuôi dậy con nên người. Con chúng ta sẽ làm được những điều mà anh mong muốn.

 Bốn người men theo lối mòn đi lên sườn đồi phía bắc. Bốn ngôi mộ xếp thành một hàng ngang. Hàng rào gỗ chắc chắn vây quanh khu mộ. PLinh đốt hương cắm vào chân từng ngôi mộ, rồi lầm rầm khấn. Út Hiền đứng bên, chắp hai tay trước ngực, cô lặng lẽ cúi đầu...

ĐOẠN KẾT 

          Út Hiền run run nhấc tổ hợp điện thoại. Bà linh cảm thấy có điều gì hệ trọng sắp xảy ra. Mấy bữa nay ruột bà nóng như có lửa đốt. Không hiểu hai đứa con của bà - Hai Bình và PLin đang theo học ngoài đó có chuyện gì. Bà giật mình khi nghe giọng PLin reo to :

- Má!  Má ơi con tìm thấy rồi!

Bà luống cuống hỏi lại:

- Tìm thấy rồi sao? Con nói cho má nghe đi con!

          - Chuyện dài quá má à. Con đã tìm được những người thân của mấy chú giải phóng rồi đó má! Chuyện kỳ quá, đúng như những gì má đã tính. Chỉ ít bữa nữa, mọi người sẽ dô trỏng thăm má, rồi lên đón mấy chú dề Bắc đó má!

          -   Thiệt dậy sao con? – giọng bà lạc hẳn đi.

          -   Thiệt mà má! Có chuyện chi dậy má?

          -  Hổng có chuyện chi đâu con, má mừng quá.  Các con ngoài đó có mạnh giỏi không?

          -   Dạ, chúng con mạnh giỏi má à!

          -   Các con ráng học cho giỏi, ráng giữ gìn nghe con. Thôi nghe con! má mừng quá...

          Út Hiền buông máy. Nước mắt bà trào ra. Bà đi đến bên bàn thờ chồng, lặng lẽ thắp nhang rồi lầm rầm khấn :

          - Anh ơi! các con chúng mình đã tìm được những người thân của mấy ảnh rồi. Các con đã thực hiện được những điều anh hằng mong muốn. Chẳng mấy nữa đâu, người thân của mấy ảnh sẽ vô đón họ về Bắc. Anh những muốn được nằm bên họ cho có bạn có bầu phải không anh? Đã bao lần em cùng các con tính đón anh về Sài Gòn cho gần nơi ba má, để anh đỡ tủi. Nhưng nghĩ tới những lời anh dặn lại anh PLinh, má con em lại không nỡ làm điều đó. Mai mốt họ đi xa rồi, anh nằm đó một mình, má con em yên tâm sao được. Chừng đó, anh cho phép má con em đón anh về Sài Gòn nghe anh!

          Út Hiền gục xuống nức nở. Trong đầu bà hiện ra cảnh hai hàng tiêu binh quân phục chỉnh tề đứng nghiêm bồng súng chào. Những chiếc quan tài phủ cờ đỏ sao vàng chầm chậm lướt qua. Trên sườn đồi cạnh đó, Sáu Thanh và PơLinh đang giơ tay vẫy vẫy. Bà vội vàng chạy về phía hai người.

                                                                                          Hương Canh 1975 - 1976

                                                                                                                   Hòn Gai 2000 - 2005